Chuong 2

By hoang-minh1212

66 0 0

More

Chuong 2

66 0 0
By hoang-minh1212

Cầm thỏi than chì ở đầu những ngón tay lem luốc, Ăngtoan vạch trên tờ giấy trắng những nét phóng của một bức phác họa, thỉnh thoảng anh đưa mắt nhìn hình dáng bất động của Cơlarit Xtơrôdi đang đứng mẫu trước mặt anh.

Anh đã tiến đến chỗ mô phỏng được khá dễ dàng những đường cong đẹp đẽ của cơ thể cô. Không thể nào so sánh nổi với những ngày khổ cực ở tu viện anh đã cố sao chép lại Thần vệ nữ của Bôtixeli mà không thành công.

Bàn tay anh được rèn luyện qua nhiều giờ vẽ phác hoạ đã đạt được khả năng chính xác và vững vàng: việc thực hiện và tính kiên nhẫn đã kết thành quả, bao giờ cũng vậy.

Anh đặt thỏi than xuống và ở trên bục Cơlarit mỉm cười.

Từ góc kia phòng vẽ, Giăng đang cố ghi lại những bóng tối nho nhỏ, tinh tế, dưới nách và thể hiện thật đúng màu sắc ấm áp của da thịt.

Dù ở lĩnh vực khác anh có thế nào đi nữa, khi đã bắt tay vào việc hội hoạ, Giăng là một nghệ sĩ say mê. Anh đã để biết bao thời giờ để chăm chú đến từng chi tiết nhỏ của cuộc sống, rồi thức tỉnh nó trên bức hoạ, không biết đến thời gian đã trôi qua, cho đến khi Cơlarit phải báo với anh rằng cô đã mệt.

Mường tượng lại tháng vừa qua, Ăngtoan khó lòng hình dung được rằng anh đã vượt qua chặng đường dài đến thế trên con đường ngăn cách anh với Pađu và nhà tu. Bản thảo của công trình nghiên cứu về tuần hoàn phổi đã ở chỗ người xuất bản hai tuần lễ rồi, và những trang in thử sẽ từ nhà in của Ghiđôbanđô Anđini gửi tới anh ngày hôm qua.

Người xuất bản nổi danh đã làm khó dễ đôi chút về vấn đề in cái mà - nói cho đúng - là một tà thuyết. Nhưng túi tiền sung túc của Xavarinô đã thuyết phục được sự lưỡng lự và mối băn khoăn về thần học của ông ta. Việc Ăngtoan đảm bảo, hứa sẽ giữ kín không nói đến ông ta nếu có chuyện gì xảy ra đã giải quyết nốt mọi tồn tại. Tác phẩm đang được in.

Giăng ngắm nghía việc vừa làm, lẩm bẩm có vẻ hài lòng và để bút xuống.

- Em nghỉ đi, Cơlarit. Thế là xong một đoạn.

Anh lau tay vào một chiếc khăn dính đầy màu và đến gần xem xét việc làm của cậu học trò mình.

- Tốt lắm. Mỗi ngày cậu một tiến bộ, Tôniô ạ.

Ăngtoan lắc đầu chán nản:

- Tuy nhiên, mình không bao giờ có thể là một nghệ sĩ. Chỉ cần nhìn tác phẩm của cậu là biết chắc chắn như thế.

- Nhưng cậu có tài năng.

- Đúng, nhưng với loại phác hoạ. Cũng có lẽ mình sẽ tiến tới thể hiện khác các mẫu tích cơ thể. Nhưng không có gì hơn nữa.

Cơlarit Xtơrôdi đã khoác chiếc áo choàng đến chỗ họ:

- Tại sao, - cô hỏi - anh lại ước ao làm được hơn như thế nhỉ? Anh làm một nhà cơ thể học lớn và một thầy thuốc, anh Tôniô, anh chỉ nên mong muốn có thể minh hoạ được tác phẩm của mình sau này. Khi bản điều trần xuất hiện, anh sẽ nhanh chóng nổi tiếng.

- Đimát! - Giăng gọi và vỗ hai bàn tay vào nhau - Cho rượu nho và thức ăn lên đây. Sáng nay chúng tôi làm việc đủ rồi.

Ăngtoan rời ghế đẩu và đến đứng trước lò sưởi trống rỗng.

- Có lẽ mình sẽ về Pađu khi vẽ xong, - anh trầm ngâm nói.

- Vẫn muốn trốn tránh trần thế ư? - Giăng hỏi.

- Mình đã tự hỏi mình điều đó, - Ăngtoan thừa nhận, - nhưng mình chưa tìm được câu trả lưòi. Cái mà mình quen thuộc đã lâu năm như thế, có lẽ, từ trong thâm tâm mình vẫn là cái mong muốn nhất.

Giăng nói vẻ khinh miệt:

- Đừng có ngốc! Làm thế nào mà cậu biết được. Cậu chưa hề thử sống theo cách khác.

- Có lẽ, - Cơlarit nói, - có lẽ tôi đoán được anh ấy cảm thấy gì. Tôniô sống trong thế giới của tâm hồn. Còn anh sống trong thế giới của thể chất.

- Có cái gì đáng chê trách trong thể chất? Em không hề hổ thẹn về cơ thể của mình, theo như anh biết.

- Không, đúng như thế. Nhưng chúng ta khác Ăngtoan, chỉ có thế thôi.

- Đối với người đàn ông, nếu chỉ sống trên một bình diện thì không có gì đáng kể, - Xavarinô lẩm bẩm. - Mình đã đọc cho cậu một đoạn của Paraxen về vấn đề này, cậu có nhớ không? Hãy xem Vêdan, Avixen (1), Cácđơnat (2), họ vừa là con người thời đại vừa là những giảng sư. Cậu không thể là người thầy thuốc tốt nếu cậu không biết rõ con người thực sự, khi cậu chưa cùng với họ, ở giữa họ, sống cuộc đời của họ.

- Nhưng mình không muốn là thầy thuốc theo danh nghĩa người chữa bệnh cho người ốm. Có nhiều, quá nhiều điều để học hỏi về vấn đề cơ thể con người và mình muốn phát hiện được tất cả những gì mình có thể, - Ăngtoan phản đối lại.

Giăng nhún vai:

- Làm như là cậu không thể học hỏi và nghiên cứu được trong khi chữa bệnh và làm cho người ta khỏi bệnh! Dầu sao thì Vêdan đã làm như thế, ông ấy hiện là thầy thuốc ở triều đình Mađơrit (3).

- Đúng. Và mình luôn tự hỏi không biết ông ta có đôi chút hài lòng nào đó trong việc làm ấy không?

- Còn nghi ngờ gì nữa! Ông ấy giàu có, nổi danh, được vị nể, kính trọng và thông thái. Không ai không biết điều đó.

- Tuy nhiên, ông ấy chỉ rẽ sang đường khác như vậy sau cơn bão táp mà cuốn Phabrica làm nổi lên, và rất có thể là do cuốn đó.

- Đúng, - Giăng thừa nhận và mỉm cười. - Và mình tiên đoán rằng cậu cũng sẽ ở trong trường hợp như thế khi lý thuyết của cậu về tuần hoàn qua phổi xuất hiện.

- Ai dám kiếm chuyện với mình ở Pađu?

- Giới tăng lữ đã chẳng bám riết lấy Vêdan là gì, phải thế không? Và ở ngay Pađu, Vêdan lại là giáo sư môn giải phẫu học, giáo sư chính thức. Cậu tưởng rằng, dù có nhiều hứa hẹn về tương lai, họ sẽ đối xử với cậu hơn cả khi mà cậu mới chỉ là một người giảng viên bình thường?

- Vậy cậu muốn mình phải làm gì bây giờ? - Ăngtoan mệt mỏi nói.

- Muốn cậu xuất hiện ở Vơnidơ, anh bạn ạ. Muốn cậu giao thiệp với các nhân vật có thế lực, những người có thể tiến cử cũng như truyền bá học thuyết của cậu, làm cho người ta biết cậu, bảo vệ học thuyết của cậu và cả cậu nữa khi cậu bị phê phán và học thuyết của cậu bị tấn công.

Ăngtôniô vẫn chưa bị thuyết phục. Cách đề ra kế hoạch, lập các dự án thực tiễn như vậy, về cơ bản khác với tính anh từ trước tới nay. Anh quay lại phía Cơlarit Xtơrôdi. Đã mấy tuần nay, anh quen biết cô gái đẹp điềm đạm và dịu dàng này, anh đã đi đến chỗ cảm thấy thân thiết thực sự với cô, thực sự tin tưởng ở cách phán đoán và rất tôn trọng các ý kiến của cô, đồng thời anh cảm thấy mến cô sâu sắc.

- Cô nghĩ thế nào về vấn đề này, Cơlarit? - anh hỏi.

- Tôi nghĩ rằng lần này thì chính Giăng đã nói đúng - cô nói. - Dù sao thì đây cũng là biện pháp tốt hơn cả để chứng tỏ chân lý của phát minh của anh và anh lại quan tâm đến vấn đề ấy hơn cả.

- Thấy chưa? - Giăng reo lên một cách thắng lợi - Hai chống một nhé.

Ăngtoan mỉm cười:

- Vậy thì tôi chịu thua.

Đimát vào, đem theo rượu nho và thức ăn, mấy người thanh niên ăn uống ngon lành. Khi họ vừa ăn xong, Đimát lại vào và báo tin:

- Một người thợ phụ của nhà in đưa tin đến.

- Cho anh ta vào. Bản điều trần của cậu có lẽ đã xong, Tôniô ạ.

Chú thợ phụ có cặp mắt đen, sắc và sục sạo, đã liếc rất nhanh qua phòng vẽ và để ý đến cách ăn mặc trễ nải, dù rằng duyên dáng của Cơlarit. Lát nữa, về nhà in, quang cảnh này sẽ được mô tả lại với những màu sắc và chi tiết nâng cao rất nhiều, và hoàn toàn không liên quan gì đến sự chính xác.

- Gì thế, chú bé? - Giăng hỏi.

- Đem tin cho bác sĩ Ăngtôniô Xecvêtut. Trong các ông, ai là ông ấy?

- Tôi đây - Ăngtoan nói.

- Ông Ghiđôbanđô Anđini mời ông đến gặp ông ấy ở xưởng - chú bé nói, giọng cao và thành thót - Thời gian của ông ấy sẽ là của ông, thưa bác sĩ. Những trang đầu cuốn sách của ông sắp in xong.

- Tốt lắm!

Chính Giăng đã trả lời và ném ra một đồng tiền, chú bé đưa tay đón lấy một cách thành thạo. Chú đưa nó lên miệng cắn rồi nắm chặt trong bàn tay dính đầy mực, mọi sự diễn ra nhanh chóng không tưởng tượng được. Một nụ cười vừa lòng hiện ra trên khuôn mặt non trẻ nhưng đã tàn héo của chú bé.

- Nói với ông Ghiđôbanđô rằng chúng tôi sẽ đến ngay!

Khi chú bé đi rồi, Giăng cầm chai rượu rót đầy ba cốc và giơ rất cao cốc của mình.

- Chúc mừng chân lý! - Anh trịnh trọng nói. - Mong rằng chân lý sẽ làm lùi bước những kẻ thù của nó.

Mùi mực hắc xộc vào mũi Giăng và Ăngtoan khi hai người bước vào cửa của nhà in nổi danh, khi chính chủ nhân vội vã ra gặp họ và mỉm cười thoả mãn. Nhà in của Anđini mới có sáu mươi năm hoạt động nhưng đã được toàn châu Ău biết tiếng. Họ bắt đầu nổi tiếng với cuốn Erôtơmata và nhiều công trình quan trọng tiếp theo. Từ ngôi nhà gạch thấp ở gần trung tâm Vơnidơ, các tác phẩm quan trọng không ngừng tuôn đến: De Atna (4) của Piêtơrô Bembô (5) sau này là giáo chủ. Một tác phẩm y học De Epidemia. Thiên luận văn nổi tiếng thời trung cổ: Hipnerôtômasia Pôliphiti. Và nhiều tác phẩm khác nữa, tất cả đều chứng tỏ sự khéo léo của Anđini trong việc in ấn.

- A! Bác sĩ! - Người in ấn kiểu cách reo lên - Tác phẩm đẹp nhất trong toàn bộ lịch sử nhà in Anđini đấy nhé!

- Ống thấy rồi à? - Giăng hỏi.

- Tôi đã thấy chữ và ấn loát. Trình bày như vậy thì phải là một tác phẩm đẹp.

Ông ta khua tay, đầy hân hoan:

- Các ông đến đây. Chúng tôi sắp đưa khỏi khuôn.

Và ông Anđini dẫn họ đến gần máy in lớn. Chiếc máy cao hơn đầu người với chiếc đinh vít gỗ dài có xoáy ốc trông rõ ở giữa bốn trụ góc, và gắn phía dưới đinh vít, chiếc bàn dập đang áp mảng chữ xếp xít nhau lên tờ giấy trắng này.

Bản luận văn rất ngắn, khoảng hai mươi lăm trang lớn và Ăngtoan đã quyết định trình bày như cách Vêdan đã thực hiện, các tác phẩm ngắn của ông, dưới hình thức Conxiliom - bản điều trần - một loạt như ngỏ trình bày điều anh đã phát hiện được.

Ông Anđini ra lệnh cho một ông thợ in, anh ta nới lỏng chiếc đanh vít. Khi bàn dập được nhấc hẳn lên, anh thận trọng nhấc tờ giấy khỏi khuôn chữ vì mực còn ướt.

Tim Ăngtoan đạp đữ dội trong lồng ngực khi xuất hiện trang đầu tiên của xuất bản phẩm sẽ thông báo với mọi người sự phát hiện lý thú của anh.

- Hoan hô! Hoan hô nhiệt liệt! - Ông Anđini đã trầm trồ khen ngợi sản phẩm của mình như thế. - Thật hoàn hảo, bác sĩ ạ, thật là tuyệt!

Những từ Latinh mà Ăngtoan chọn làm tiêu đề cho bản luận đề của mình đựơc in chữ đen gạch dưới rất rõ: De Motu Sanguinem Pulmonale.

Sự hoạt động của máu ở phổi, hay là tuần hoàn máu trong phổi - Tác phẩm đầu tiên của anh được ấn hành! Ăngtoan thoáng cảm thấy kiêu hãnh khi anh tiếp tục đọc trang tên sách: Anatomia veni et arterice pulmonale cum descriptis motu Sanguinem pulmonle (phẫu tích các tĩnh mạch và động mạch phổi, đồng thời miêu tả sự tuần hoàn của máu qua phổi).

Tất cả ở dây rõ ràng, trên trang tên sách, đúng như anh đã viết: "Chi tiết về giải phẫu phổi và tuần hoàn máu qua phổi, do Misaen Xecvêtut đã phát hiện trước đây và đã được chứng minh bằng thí nghiệm do em của ông là Ăngtôniô Xecvêtut, cán bộ giảng dạy về cơ thể học ở trường y trong đại học đường ở Pađu".

- Mình vẫn cứ cho rằng cậu cần phải bỏ đi chỗ nói về anh cậu - Giăng lo lắng nói.

Hai mắt Ăngtoan toé lửa.

- Đây là việc làm để phục hồi danh dự và chứng minh cho tác phẩm của anh ấy.

- Được. Nhưng trưng bày điều đó lên ngay trang tên sách là tự tìm lấy những rắc rối tệ hại nhất.

Ông Anđini bỗng tỏ ra lo lắng và bắt đầu rên rỉ:

- Xin đừng quên rằng ông ta hứa tránh cho tôi mọi khó khăn do việc ấn hành này, thưa bác sĩ.

- Tôi sẽ một mình chịu mọi hậu quả, - Ăngtoan bình thản nói. - Ấn phẩm này đẹp lắm ông ạ. Khi nào tôi có thể hy vọng cuốn sách xong hoàn toàn?

- Không mấy ngày nữa đâu.

- Lúc ấy tai hoạ sẽ bắt đầu mưa xuống! - Giăng ảm đạm nói - Mình cũng chẳng biết thế quỷ nào mà mình lại dính líu đến chuyện này.

- Cậu không dính líu vào đấy đâu. Tên cậu không có ở bất cứ chỗ nào cả.

- Đã thoả thuận rằng chúng mình cùng làm kia mà, đúng không?

Ăngtoan hất đầu ra phía sau một cách kiêu hãnh:

- Mình sẽ chỉ một mình nhận những điều khiển trách có thể xảy ra. Mình cũng sẽ một mình chịu những diễn biến tiếp theo. Một trong những bản đầu tiên sẽ gửi đến cha Phêlíp Xăngtốt.

- Trời ơi, tại sao cậu cứ cố tự mình chúi đầu vào giỏ thế? Ông ta sẽ nghe nói đến vấn đề này khá sớm đấy.

- Cha Phêlíp là một người phụng sự Chúa, Giăng ạ. Khi đọc bản điều trần, ông ấy sẽ phải thừa nhận rằng đây là sự thực. Làm thế nào mà ông ta có thể khác như thế được?

Giăng nhún vai chán nản:

- Lẽ ra mình cứ để cậu trở thành giáo sĩ, Tôniô ạ! Chúa đã biết rõ rằng cậu khá bướng bỉnh để làm được nhiệm vụ ấy.

Không đầy một tuần lễ, cuốn De Motu Sanguinem Pulmonale đã gây ra những xáo động rõ rệt.

Từ nhà in, tin đồn về tính chất của tài liệu mà ông Anđini vừa ấn hành bằng máy của ông đã lan truyền, do những người thợ nói ra.

Theo thường lệ, ông Anđini đã gửi những trang in tốt đến các bạn đồng nghiệp của ông để họ có thể đánh giá tầm quan trọng, chất lượng và nói tóm lại là sự hoàn hảo của sản phẩm của ông. Tập sách mỏng chưa xuất hiện mà yêu cầu mua sách đã tới từ khắp nơi ở Vơnidơ và Pađu.

Phần đông những người vội vàng ghi tên mua ấy là những người làm công tác khoa học rất quan tâm đến tác phẩm cách mạng đến như thế và muốn thấy sự phản bác lại những điều Galiêng đã khẳng định một cách quả quyết.

Những người khác ghi tên là những người của Nhà thờ, có những người khá sáng suốt để đánh giá tầm quan trọng của sự phát hiện ấy, có những người chỉ muốn tìm ở đấy chứng cớ của sự chia rẽ, làm ngăn cách các nhà khoa học với Nhà thờ ngày càng nhiều và ngày càng nhanh chóng hơn.

Khi Ăngtoan cầm bản in đầu tiên trong tay, anh xao xuyến vì hãnh diện. Những nhà bác học nổi tiếng và những người bảo vệ khoa học cao quý đã mời anh đến gặp mặt. Anh chú ý gửi các bản điều trần đến những nơi, theo Giăng biết, chúng sẽ tạo ra ảnh hưởng lớn, đến vị thống đốc, tất nhiên thế, và đến những người con cao quý nhất của Cộng hoà Vơnidơ.

Bản dành cho cha Phêlíp Xăngtốt được một người đưa thư đặc biệt đưa nhanh đến cho ông, kèm theo lời yêu cầu Tu viện trưởng lưu ý. Một tuần sau Ăngtoan đi Pađu, chính bản thân anh mang một bản đến đưa tận tay giáo sư Phalôpiut. Trong lúc anh đợi xe từ Pađu, một người đàn ông thấp bé béo mập mặc áo bào chế ồn ào chen lên xe trước anh và chỉ cho anh một chỗ ngồi ngay bên cạnh tấm thân béo tốt của ông ta.

- Chà! - Ông ta nói - Chúng ta đến vừa kịp giờ, bác sĩ ạ.

Ăngtoan ngả đầu một cách lịch sự:

- Ông biết tôi sao?

- Biết chứ! Tên tôi là Batixta Poocdia. Tôi đã gặp ông nhiều lần ở Pađu và ông cũng đã chữa bệnh cho một người bạn của tôi.

Ông ta nói tên một giáo sư mà Ăngtoan đã chăm sóc trong tình trạng viêm da cấp tính rồi hỏi:

- Ông về trường đại học đấy à, bác sĩ?

- Một ngày thôi. Tôi đang nghỉ hè ở Vơnidơ.

- Ồ ! Vơnidơ!...

Ông ta mỉm cười thán phục và bộ mặt hồng hào sáng lên:

- Thành phố tuyệt vời! Kỳ quan của những kỳ quan! Đây là đô thị ước mơ của giới tuổi trẻ.

- Tôi đến đấy nghiên cứu một số vấn đề đặc biệt, - Ăngtoan nói một cách nghiêm nghị.

- Tôi cũng nghe nói thế, tôi cũng nghe nói thế! - Ông Poocdia sốt sắng nói. - Cả Vơnidơ đang nói đến phát hiện y học lớn lao của ông đã thông báo cho mọi người.

Ăngtoan không giữ nổi mỉm cười. Anh vẫn chưa thể tin được rằng tiếng vang do bản điều trần của anh gây ra lan truyền trong thành phố nhanh như thế. Nếu những người bào chế còn biết đến sự việc này thì những người khác không bao lâu nữa cũng sẽ biết.

Anh phản đối:

- Đây chỉ là một xác định bình thường về mặt cơ thể học. Vấn đề ấy được phát hiện từ trước, do anh tôi là Misaen Xecvêtut tìm ra!

Ông Poodia gật đầu tỏ vẻ kính trọng:

- Tôi đã may mắn được đọc nhiều tác phẩm của anh ông. Ông ấy là một người vĩ đại và một nhà bác học.

Ăngtoan không thể ngăn mình không hào hứng trước sự quan tâm hữu nghị mà người hành khách thấp béo đã biểu lộ, anh bớt thái độ lạnh lùng thông thường trước những người không quen biết.

- Ông nói như vậy thật là quý hoá!

- Trước kia tôi chưa biết những công trình của ông ấy về tuần hoàn phổi. - Poodia tiếp tục nói. - Nhưng các học thuyết của ông ấy về thần học thật là lành mạnh, vô cùng lành mạnh.

Ông ta đảo mắt nhìn trong xe rồi thấp giọng xuống:

- Tôi cứ ước ao rằng ông sẽ xuất bản một vài văn bản đặc biệt của ông ấy. Ông có dự định như vậy không?

Ăngtoan cau mày. Do cha anh đã cấm anh ngay sau buổi hành hình, anh chưa bao giờ đọc những học thuyết thần học đã đưa anh mình đến chỗ bi đát như thế. Thật là ngẫu nhiên, trong khi đang học y khoa, anh đã bắt gặp đoạn nói về tuần hoàn phổi. Nhưng từ khi anh xác định được rằng Misen đã nói đúng ở một điểm nhất định, anh cảm thấy mình sẵn sàng tin rằng anh ấy có thể đúng ỏ nhiều điểm khác nữa. Người thấp béo có vẻ biết nhiều vấn đề mà anh cũng muốn biết.

- Tôi biết rất ít về khía cạnh đó trong đời sống của anh tôi, - anh khẽ nói. - Anh ấy hầu như không bao giờ ở nhà.

- Thật đáng tiếc! - người kia thở dài. - Bản thân tôi không quen nhưng tôi có một người bạn linh mục là người tin cẩn của ông ấy, cha Giắc Sácmiê ấy mà.

- Tôi có được biết về cha Sácmiê, - Ăngtoan thừa nhận, - Tôi chưa bao giờ gặp người nhưng có biết rằng anh tôi và người rất gắn bó với nhau.

- Như thầy và trò vậy. Chính do người mà tôi biết rằng điều luật vận dụng để anh của ông bị hành hình là bất hợp pháp.

Ăngtoan nhìn chằm chặp vào người thấp lùn. Tại sao người này lại biết những sự việc ấy nhỉ? Hắn ta muốn đi đến đâu đây?

- Ông có thể nói cho tôi biết rõ hơn nữa không? - anh hỏi khẽ hơn.

- Đạo luật Giuyxtiniêng bị chính phủ Thuỵ Sĩ bỏ đi đã lâu năm, - ông Poocdia thì thầm nói tiếp. - Trong khi ấy thì đạo luật này vẫn được thực hiện ở Rôma. Chính các toà án của Giáo hoàng đã dùng luật ấy để buộc tội anh của ông.

Lúc này xe đã đầy người và bắt đầu chuyển bánh. Ăngtoan nhận thấy nhiều hành khách nhìn anh một cách tò mò, không còn nghi ngờ gì nữa, họ đã theo dõi câu chuyện.

- Có lẽ chúng ta sẽ tiếp tục câu chuyện này ở chỗ khác và vào lúc khác chăng? - anh gợi ý.

- Đúng đấy. - người đàn ông thấp bé đồng ý ngay. - Tôi sẽ có thể đến thăm ông ở nơi ông ở vì tôi đến Vơnidơ luôn để mua các vị thuốc cho hiệu bào chế của tôi.

- Tôi ở nhà ông Giăng Xavarinô, phố Galide Vaxca.

- Tôi biết, - ông Poodia nói. - Tôi xác định rằng tôi có nhiệm vụ đến chào ông. Có lẽ sau khi tôi được đọc bản Điều trần nổi tiếng của ông.

Sau lúc ấy họ nói đến các vị thuốc, vấn đề mà ông Poocdia dù bản thân là nhà bào chế, mà thật kỳ lạ, hình như chẳng biết gì cả.

"Đúng là ông Poocdia này hiểu biết về những vấn đề về thần học hơn nhiều". Ăngtoan nghĩ như thế.

Phalôpiút đọc trang tên sách và trầm tư vuốt râu. Rồi cụ lật trang và đọc vào chính văn, cụ không rời ra cho đến khi đọc trang cuối cuốn sách mỏng.

Thỉnh thoảng cụ thốt ra một tiếng ầm ừ tán thưởng và bộ râu cụ gật gù. Khi cụ đọc xong, Ăngtoan vẫn đứng yên lặng bên cụ, lên tiếng hỏi:

- Thưa giáo sư, ngài nghĩ như thế nào về vấn đề này?

- Tôi vô cùng mong muốn có đủ can đảm để làm một việc như thế này!

- Giáo sư đồng ý phải không ạ?

- Tất cả mọi người đều phải đồng ý. Chứng minh của anh rất rõ ràng, luận lý và biện giải của anh hoàn toàn vững chắc, đến mức không thể rút ra một kết luận nào khác kết luận của anhh . Không còn nghi ngờ gì nữa, anh đã phát hiện ra chân lý về tuần hoàn phổi.

Ăngtoan lắc đầu:

- Tôi chỉ nhắc lại việc làm của anh tôi và hỗ trợ nó bằng một xác định dựa trên cơ sở vật chất. Phát hiện này của Misen.

Phalôpiút trầm ngâm gật đầu:

- Tôi có biết anh Misaen của anh. Anh ta giống như anh, say mê, gắn bó với chân lý về vấn đề này thì anh không hề nhân nhượng gì cả.

- Làm thế nào có thể khác như thế được ạ?

- Có thể không thể khác đối với các anh và những người như các anh. Nhưng nếu anh của anh đã giới hạn các suy nghĩ của anh ấy ở lĩnh vực cơ thể và y học thì phát minh này được công bố nhiều năm trước đây rồi. Nguy hiểm chính ở chỗ này đây, anh ạ. Ta có thể từ chối, không chịu vi phạm tí gì trong lĩnh vực khoa học, vì rằng rõ ràng là phát minh khoa học chỉ là sự phát hiện ra các quy luật của tự nhiên. Nhưng đừng có xa rời con đường này. Đừng mắc phải sai lầm như anh của anh đã mắc, đừng đưa ánh sáng và lý luận vào những vấn đề mà chúng ta không được coi như có hiểu biết.

- Thí dụ như về một học thuyết thần học?

- Phải. Tôi sẽ vô cùng buồn rầu nếu thấy anh vấp phải thứ chướng ngại vật đã làm mất Misen.

- Tôi không hề có gì bất hoà với Nhà thờ. - Ăngtoan quả quyết.

- Điều tôi bận tâm là tìm hiểu xem Nhà thờ sẽ có bất hoà với anh hay không.

- Bởi vì tôi đã tìm thấy sự thực trong văn bản của một người tà giáo phải không ạ?

- Phải.

- Vậy thì họ sẽ sai lầm. Đúng là họ sai lầm., - Ăngtoan phản đối. - Bởi vì đó là sự thực... Sự thực là sự thực...

- Tôi biết như thế, - Phalôpiút thừa nhận. - Một nhà bác học có thể thừa nhận những sai sót của mình khi họ mắc phải lầm lẫn và tìm tòi, nghiên cứu theo hướng khác. Thần học không biết đến sự linh hoạt ấy. Ở khắp mọi nơi trừ Vơnidơ đã có những người bị tử hình vì họ không phạm một tội gì khác việc sử dụng bộ óc mà Chúa đã ban cho họ.

- Giáo sư có cho rằng vị trí của tôi ở đây, ở trường đại học, sẽ bị động chạm đến không?

Phalôpiút xoa cằm:

- Không còn nghi ngờ gì nữa, những ý đồ đánh bật anh sẽ thể hiện. Nhưng anh có thể ở sự ủng hộ của tôi, những ý đồ kia có thể sẽ không đạt mục đích.

Cụ đưa tay cho người đồng nghiệp trẻ của mình:

- Mọi sự đều do ý Chúa. Tạm biệt!

Khi Ăngtoan rời trường đại học, cúi đầu xuống do thói quen khi đi qua khung cửa thấp, anh trông thấy một thầy dòng giúp việc tu viện đang đợi anh gần lối vào.

- Chào thầy Ăngtôniô, - thầy dòng ấy nói. - Đức Cha Phêlíp Xăngtốt mời thầy đến gặp người trước khi đi Vơnidơ.

Ăngtoan ngạc nhiên hỏi:

- Tại sao Đức Cha biết tôi về thành phố này?

Người đem tin nhún vai tỏ thái độ không biết:

- Tôi không biết. Tôi chỉ được cử đến gặp thầy để chuyển lời.

- Được thôi, một giờ nữa tôi sẽ đến chỗ Đức Cha.

Nói cho cùng thì tốt hơn là gặp Xăngtốt không trì hoãn để rồi không còn phải nghĩ đến việc ấy nữa.

Đường anh đi lại đến đúng chỗ cầu qua sông Bakigơliôn, chỗ mà cách đây không lâu, giáo sư Phalôpiút và Ăngtoan đã cùng đi qua.

Anh dừng lại một lát như anh đã từng làm như thế khi trước để ngắm nhìn dòng nước sẫm nhơ bẩn đang ngoằn nghèo chảy giữa hai bờ cỏ xanh. Vẫn nguồn nước nhỏ mà cụ Phalôpiút đã nói đến khi trước đang cố đưa vào làn nước nhờn vùng bán nguyệt nước trong suốt và nó bị hớp lấy ngay tức khắc không để lại một dấu vết.

Sự phát hiện của anh, Ăngtoan tự nhủ, sẽ như một nguồn nước mãnh liệt bật ra từ chiều sâu của lương tâm con người. Tuy nhiên, nó có khả năng vượt qua được hay không những dòng chảy đen tối của âm mưu, của dốt nát, của rồ dại và ngu ngốc?

Một đám mây đi qua mặt trời, ngay khi những tia nắng ấm áp bị bức màn ấy che khuất, không khí hình như giá lạnh hẳn đi. Ăngtoan cố ghìm để khỏi rùng mình. Không phải chỉ do lạnh: phải chăng đây là sự tiên báo nào đó, là sự linh cảm nặng nề cái gì đang chờ đợi anh trong tương lai gần đây, là nỗi lo sợ mơ hồ về một sự thù địch?

Rồi mặt trời lại xuất hiện, lại sưởi ấm cả tinh thần và thân thể anh, Ăngtoan tiến bước về phía tu viện.

Cha Phêlíp Xăngtốt tỏ ra ôn hoà một cách lạ lùng. Khi Ăngtoan hôn viền áo của ông ta, ông ta chỉ cho anh một chiếc ghế gần chỗ của mình, trong phòng tiếp kiến.

- Tôi cho người mời anh đến tu viện vì một lý do, bác sĩ ạ.

Ăngtoan yên lặng chờ đợi.

- Tôi đã đọc cuốn Điều trần của anh một cách vô cùng lý thú, - tu viện trưởng tiếp tục nói. - Cuốn sách ấy khá gần gũi với câu chuyện của chúng ta về cha Mariô.

- Chính trong đêm hôm ấy ý kiến về vấn đề này đã đến với tôi - Ăngtoan thừa nhận.

- Tôi cũng đã kết luận như vậy. Ở một khía cạnh nào đó tôi cho rằng mình phải chịu trách nhiệm về học thuyết của anh!

- Đức Cha tán thành điều đó sao? - Ăngtoan thốt lên, sôi nổi hy vọng.

- Tán thành điều đó ư? - Tu viện trưởng nhướng cao lông mày. - Chắc chắn là không rồi. Tại sao tôi có thể như thế được? Các đạo luật của Nhà thờ về vấn đề tà giáo hoàn toàn rõ ràng.

- Nhưng sự thực vẫn là sự thực.

- Tôi đã nói rằng "các đạo luật hoàn toàn rõ ràng". Và cũng rõ ràng như những điều trừng phạt đã được quy định đối với những người vi phạm các đạo luật ấy, hãy nhớ lấy điều đó, bác sĩ ạ. Nhớ kỹ lấy điều đó!

Sự hào hứng của Ăngtoan giảm hẳn. Nhưng tại sao cha Phêlíp lại có thái độ ôn hoà lạ lùng như thế trong khi ông ta đã xếp bản Điều trần vào loại tà giáo?

- Tuy vậy, - tu viện trưởng nói tiếp, - Chúng tôi dự định không biết đến sai lầm của những người đã có đóng góp khá lớn vào sự vinh quang của Nhà thờ.

- Nhưng tôi có làm gì đâu... nếu không phải là cha đã nghĩ đến những công việc phẫu thuật của tôi, - Ăngtoan khẽ nói.

- Không thể cho rằng Nhà thờ khuyến khích việc mổ xẻ thân thể con người, - cha Phêlíp gay gắt nối.

- Trong trường hợp này...

Ăngtoan vừa bắt đầu nói đã im bặt. Bức tranh! Cha Phêlíp rõ ràng là đã khám phá ra bức tranh rồi... Điều đó giải thích tất cả, thái độ ôn hoà hiếm có của tu viện trưởng, vấn đề mời đến như thế này... Như Giăng đã nói trước, cha Phêlíp không hề định trả lại bức tranh cho những người chủ của nó. Nhưng Xăngtốt có biết rằng (Ăngtoan rất muốn biết điều này!) chính anh, chính Xécvê này, đã biết những người chủ hợp pháp của nó là ai rồi không?

- Khi tôi xác định được rằng trong tu viện có một cửa khoá (tiếng nói của cha Phêlíp lấn át sự suy nghĩ của người thanh niên), tất nhiên tôi đã ra lệnh mở chiếc cửa đó. Và cũng tất nhiên là tôi đã rất ngạc nhiên khi phát hiện được anh đã giấu một thứ gì đó. Anh thấy bức tranh ấy ở đâu?

- Trong một cuộn mà tôi không biết ai đã bỏ từ bao giờ ở cuối nhà kho.

Cha Phêlíp nhìn vào khoảng không và khi ông ta nói, giọng ông ta bàng quan và lơ đãng.

- Rất có thể là bức tranh này ít giá trị. Có khả năng đây là bản sao của một bậc thầy cổ xưa nào đó.

- Đây là, - Ăngtoan trả lời không quanh co, - bức tranh Thần vệ nữ của Bôtixeli, bản gỗ. Nó quý vô giá.

- Anh có biết chắc chắn điều anh nói không?

Tu viện trưởng cúi đầu về phía trước, nóng ruột đợi trả lời.

- Tôi đã mời ông Giăng Xavarinô xem. Ông ấy đã thấy bức tranh này trước kia và khẳng định là bản gốc.

Tu viện trưởng xoa hai bàn tay gầy vào nhau, hài lòng một cách rõ rệt khi nghe khẳng định về giá trị bức tranh, và ông ta ôn tồn nói:

- Anh đã giúp chúng tôi một việc lớn lao, bác sĩ Xecvêtut ạ, vì đã tìm ra một tác phẩm nghệ thuật như thế. Sự hiện diện của nó trong tu viện của chúng tôi sẽ là lời ca ngợi sự quang vinh của Chúa...

- Nhưng...

Ăngtoan ngừng bặt, hình như trong anh có một sự khôn ngoan nào đó đang bảo anh rằng không nên lộ rõ anh đã biết chủ nhân bức tranh là ai thì tốt hơn.

- Anh muốn nói gì?

- Tôi muốn nói rằng ngài có biết bức tranh này của ai không?

- Rủi thay, tôi không biết.

Giọng của tu viện trưởng không ngập ngừng khi ông ta nói ra điều trái với sự thực.

- Vì vậy chúng ta chẳng còn phương sách nào khác là để bức tranh ở đây cho an toàn.

Như vậy là cha Phêlíp không biết rằng câu chuyện giữa ông ta và ông Belacmi đã bị nghe thấy. Biết rõ chuyện ấy đối với anh sẽ quý báu như thế nào và vào lúc nào, anh chưa nghĩ tới, nhưng anh cảm thấy một cách lộn xộn, tự nhiên rằng không nên bộc lộ nó với tu viện trưởng.

- Tôi chỉ sử dụng bức tranh ấy để tập mấy bức phác hoạ, - anh nói, giọng lơ đãng.

- Chúng tôi cũng nghĩ như thế khi tìm được cả những bức vẽ thử của anh, cha Phêlíp trả lời làm ra vẻ bàng quan. - Tôi đã để bức tranh ở chỗ tôi, tạm thời thôi. Sau này chúng ta sẽ suy nghĩ để tìm cho nó một chỗ xứng đáng.

Ăngtoan cảm thấy người nóng bừng lên vì tức giận, nhưng anh đã tự chủ được. Người anh yêu mến đã bị giam hãm trong căn phòng của Phêlíp, vẻ đẹp ấy đã trở thành vật làm vui cho đôi mắt lạnh lùng với những mi mắt sụp xuống. Còn bản thân anh, Ăngtoan, anh chẳng làm gì được, bất lực, không thể can thiệp vào được.

Bỗng nhiên anh giật mình hiểu rõ rằng giấc mơ của anh đã thành hiện thực. Anh được báo trước, nhưng đã không làm gì để tự bảo vệ, dù rằng chính anh đã hiểu rõ sự báo trước huyền bí này.

Anh có lỗi lớn lẽ ra anh phải nghĩ rằng người nào đó thấy cửa phòng anh khoá kín sẽ mở ra ngay không trì hoãn. Anh còn có lỗi nữa vì đã để cho sự xích mích của mình với Luxia Belacmi ngăn cản mình lúc định nói rõ cho ông chú của cô biết chỗ đang cất giấu kho báu. Anh tự trách mình đã ngu ngốc. Tất cả những gì anh thu lượm được là biết rõ thực chất của người ngồi trước mặt anh đang ngầm quan sát anh với một nụ cười thoáng vẻ khinh bỉ.

- Như tôi đã nói với anh, - cha Phêlíp nói tiếp, - Nhà thờ sẵn sàng khoan dung cho những ai trong các con mình đã có công lớn đối với Nhà thờ. Anh đã giúp chúng tôi một việc lớn là tìm thấy tác phẩm nghệ thuật quý báu này. Anh có thể biết rõ điều đó, nếu anh muốn?

- Việc gì ạ? - Ăngtoan hỏi như máy.

Hai mắt của Phêlíp khép nhỏ lại hơn nữa.

- Nếu sự hiện diện của bức tranh bị mọi người biết rõ ngay, chúng ta sẽ bị phiền phức vì... nhiều người sẽ giả mạo quyền sở hữu... Tôi cảm thấy rằng, ít ra trong lúc này, quyền lợi của chúng ta chỉ được đảm bảo bằng sự im lặng.

Như vậy đấy, đấy là mồi nhử, đấy cũng là giá của sự yên ổn hiện tại của anh, điều kiện để anh sẽ không bị truy nã vì tội theo tà giáo là như thế đấy.

Nhưng vẻ thoả mãn thô thiển và hể hả lồ lộ trên mặt tu viện trưởng có cái gì mờ ám làm cho Ăngtoan nghĩ rằng còn có một vấn đề gì nữa đây. Anh quyết định thăm dò tình hình.

- Giả thử tôi không chấp nhận thì sao?

- Tôi cho rằng anh không đến nỗi kém khôn ngoan như thế, - tu viện trưởng nói một cách thân ái. - Dù sao thì chúng tôi cũng đã có đề phòng.

Ông gõ vào một chiếc chiêng nhỏ bằng bạc đặt trên bàn ở bên cạnh ông. Ngay lập tức, một người đàn ông từ sau tấm màn che sau lưng chiếc ghế tựa cao bước ra, có lẽ hắn đã nấp ở đấy suốt thời gian hội thoại. Không phải sự xuất hiện làm Ăngtoan ngạc nhiên mà là bộ mặt của nó, vì người ấy không phải ai khác ông Batixta Poocdia, người bạn đồng hành đáng mến của anh trong chuyến xe khách.

- Chắc anh đã gặp ông Poocdia rồi, - cha Phêlíp nói.

Ông Poocdia cúi chào, miệng mỉm cười:

- Thế là chúng ta lại gặp nhau, bác sĩ Xecvêtut nhỉ. Mà lại rất thoải mái nữa.

Ăngtoan sững sờ, thấy bỗng nhiên buồn nôn và linh cảm rằng có một mối nguy hiểm rõ rệt đang lảng vảng quanh anh.

- Ông Poocdia có cho tôi biết về một câu chuyện nào đó đã trao đổi với anh ngay sáng hôm nay, - vị giáo sĩ dòng Đôminich nói một cách lịch sự, - Có lẽ ông ấy có thể làm ơn nhắc lại một phần của câu chuyện đó vì lợi ích của ông.

- Được lắm, được lắm, - chiếc thùng nhỏ ấy quả quyết rất hào hứng, vui vẻ. - Bác sĩ Xécvê và tôi đã tranh luận với nhau một cách lý thú về một số học thuyết thần học nêu ra xưa kia do anh của ông ấy, tên tà giáo Misen Xécvê và cả một người cùng phe phái với hắn là giáo sĩ Giắc Sácmiê.

- Thế... tính chất của câu chuyện này như thế nào nhỉ? - Tu viện trưởng hỏi.

- Bác sĩ Xécvê khẳng định rằng ông ấy chắc chắn là anh của ông ấy bị kết án bất hợp pháp, về phía Nhà thờ Gia tô giáo. Ông ấy cũng khẳng định rằng ông ấy tán thành hoàn toàn các học thuyết tà giáo mà Misen Xecvêtut đã thuyết lý.

- Nói dối! - Ăngtoan hét lên và đứng vùng dậy. - Tôi không hề nói điều gì như thế.

- Này, này! Bình tĩnh!

Cha Phêlíp lạnh lùng bảo anh:

- Lời nói của ông Poocdia không thể nghi ngờ được.

- Tại sao lời nói của ông ta lại có giá trị hơn lời nói của tôi? - Ăngtoan nóng nảy hỏi.

- Ông Poocdia là người của Toà án tôn giáo.

- Của Toà giáo ư?...

Ăngtoan rơi mình xuống ghế, bị đánh gục một cách phũ phàng bởi âm thanh dữ dội của những từ ấy.

- Toà án tôn giáo! - Anh khe khẽ nói tiếp.

Và làn sóng những hoài niệm tràn ngập tâm trí anh, dù là những vấn đề được nghe nói trong thời thơ ấu đã trôi qua ở Tây Ban Nha. Không ai cưỡng lại được những cánh tay cường quyền, những ngón tay xiết chặt cổ người của Toà án tôn giáo. Không ai dám cãi lại lời chứng thực, - dù có sai đi nữa - của một nhân viên ở đấy. Và giờ đây sự khủng khiếp không tên gọi ấy đã đến trung tâm Pađu hôm qua còn yên ổn biết chừng nào và chuẩn bị huỷ hoại dần thành luỹ cổ kính và gần như duy nhất của tự do còn tồn tại trên thế giới này. Ăngtoan nhớ lại điều mà một hôm Giăng đã quả quyết: Cha Phêlíp Xăngtốt là người của Toà án tôn giáo. Không còn nghi ngờ gì nữa, chính vì lý do ấy nên ông ta được bổ nhiệm về Pađu, với mục đích huỷ dần, phá hoại, diệt bỏ cái quyền thiêng liêng là đi tìm chân lý mà Chúa đã ban cho con người.

- Cả tôi nữa, - cha Phêlíp nói tiếp, - Tôi cũng phục vụ Toà giáo.

Ăngtoan rùng mình khi nghe câu nói xác định rõ những nghi ngờ tệ hại nhất của anh.

- Tôi thấy rằng, - tiếng nói lạnh lẽo tiếp tục, - anh đã đánh giá đầy đủ sự nghiêm trọng của tình hình. Anh có đồng ý rằng tốt hơn cả là anh hãy giữ kín không nói đến vấn đề - ta hãy gọi là đến những vấn đề - chúng ta tranh luận lúc nãy không?

Ăngtoan cố đứng dậy:

- Tôi đồng ý, - anh nói nhưng cổ họng như thắt lại, lời nói thoát ra một cách khó khăn và giọng khàn đi, - tôi đồng ý.

- Tôi cũng nghĩ rằng anh sẽ đồng ý, - cha Phêlíp nói. - Cầu Chúa cho anh được bình yên.

- Xin chúc cha bình yên, - Ăngtoan trả lời, tiếng lạc hẳn đi.

Rồi anh rời khỏi gian phòng ấy. Nhưng trong phòng anh không hề bình yên, không một chút nào cả.

Tuy nhiên, đi đến nửa quãng đường từ tu viện đến chỗ đỗ xe đi Vơnidơ, Ăngtoan bỗng bật cười. Tu viện trưởng đã bắt anh thề giữ bí mật về bức tranh và lấy sấm sét của toà án tôn giáo ra để dạo nạt, nhưng tu viện trưởng không biết rằng, từ nhiều tuần lễ trước, Ăngtoan đã viết thư cho ông Girôlamô Belacmi đang ở lâu đài của ông ta ở Phlơrăngxơ và nói cho ông ta rõ rằng bức tranh Thần vệ nữ của Bôtixeli hiện có mặt ở tu viện dòng Đôminich ở Pađu.

Ông Girôlamô Belacmi ngồi thoải mái trên chiếc ghế bành thường dùng trong văn phòng của nhà Belacmi, những người kế tục dòng họ Vexpucxi, và âu yếm ngắm cô cháu gái. Ngồi chót vót trên một chiếc ghế đẩu cao trước mặt ông, cô Luxia đang đọc một bức thư, thỉnh thoảng lại nhăn chiếc mũi nhỏ xinh xắn lại, đó là để nhấn mạnh một câu nào trong đoạn. Ông Belacmi ngắm cô với một niềm vui vô tận vì cô thể hiện một cảnh tượng rất đẹp mắt. Khi cô im lặng, bức thư đã đọc xong. Ông khẽ nói:

- Cháu đã nói đúng, Luxia ạ. Nhà thần học trẻ tuổi này thú nhận rằng anh ta đã giấu bức tranh ở tu viện!

- Khi ấy cháu đã biết chắc như thế, chú ạ.

- Nhưng anh ta không hề nói đến việc gửi nó tới cho chúng ta, - ông Belacmi nhận xét. - Cũng không nói đến việc anh ta sẽ đích thân đến Phlôrăngxơ.

- Anh ấy sẽ đến, - tiểu thư Luxia tuyên bố vẻ tin tưởng và chắc chắn.

- Ai đã lập số tử vi cho cháu thế, - ông Belacmi mỉm cười hỏi, - để cháu cảm thấy vững tin ở tương lai như vậy.

- Chỉ do trực giác thôi ạ, - cô gái xinh đẹp trả lời và lắc đầu.

- Không thể lúc nào cũng dựa vào trực giác được.

- Với trực giác của cháu thì được đấy.

Ông chú Belacmi nhướng lông mày:

- Chúng ta sẽ chờ xem nhé, cô bạn nhỏ! Bây giờ thì cháu đi chỗ khác đi để chú làm việc một chút.

Tuy nhiên, khi cô gái không ở đấy nữa, ông Belacmi quên vùi đầu vào đọc những cuốn sổ lớn chồng chất trên bàn giấy của ông và tư lự nhấm nhấm chiếc bút lông ngỗng. Sau giây lát suy nghĩ ấy, ông với tay lấy một tờ giấy trắng, dúng bút vào lọ mực to bằng đồng đen và bắt đầu viết:

"Gửi ông Ăngtôniô Xecvêtut,

Thầy thuốc, ở số 14 phố Galide Vaxca, Vơnidơ.

Thưa ông rất tôn kính!

Bức thư của ông báo tin về bức tranh của Bôtixeli mang tên Thần vệ nữ giáng sinh vừa đến với tôi. Tin này làm cho tôi, và nhất là cho cháu gái tôi - bức tranh ấy là của riêng nó - hài lòng vì biết rằng tác phẩm nghệ thuật này đang được an toàn ở tu viện dòng Đôminich ở Pađu.

Dù rất biết ơn ông đã có lòng tốt làm cho chúng tôi yên tâm như vậy, chúng tôi vẫn không thể không nghĩ rằng đáng lẽ ông nên báo cho chúng tôi biết việc này từ khi chúng tôi ở Pađu, hay là ở Vơnidơ cũng được, để chúng tôi có thể thu xếp đem bức tranh về Phlôrăngxơ. Đây là một đặc ân mà chúng tôi không được tiếp nhận, vì rằng chúng tôi đã rời thành phố ấy.

Tôi có cảm tưởng rằng không quá làm phiền ông khi đề nghị ông đích thân tìm những cách nào mà ông cho là cần thiết để bảo đảm cho bức tranh, tránh tất cả những gì đáng tiếc có thể xảy đến với nó, và đề nghị ông làm mọi việc để đưa bức tranh ấy đến đây được vẹn toàn...."

Ông ngừng lại ở chỗ này, và trong giây lát, lại trầm ngâm cắn đầu chiếc bút lông ngỗng, một nụ cười nở trên môi, ông lại tiếp tục viết:

"Có lẽ không cần phải khẳng định với ông rằng mọi chi phí về thời gian và tiền bạc mà ông phải sử dụng đến cho việc này, tôi xin đảm bảo trước là sẽ thanh toán lại.

Xin ông nhận cho những lời chúc sức khoẻ lâu dài và chúc thắng lợi trong câu chuyện này. Cháu gái tôi gửi lời chúc tới ông.

Thưa ông rất tôn kính, xin hãy tin ở sự trung thành của tôi.

Girôlamô Belacmi

Phlôrăngxơ, A.D.1563"

Bức thư công việc kết thúc, ông Belacmi đọc lại, lông mày cau cau vì chăm chú. Ông gấp lại rồi nhỏ lên các mép giấy một giọt sáp đỏ để dán kín và ấn mạnh lên đấy con dấu khắc trên chiếc nhẫn ông đeo ở tay trái. Rồi ông ngồi chỉnh tề lại trên chiếc ghế tựa và lặng lẽ mỉm cười.

Trực giác của người phụ nữ - và đặc biệt là của Luxia - là một yếu tố kỳ lạ, ông sẵn sàng thừa nhận như thế. Nhưng ông là một nhà kinh doanh rất khôn ngoan nên không thể không thêm vào yếu tố ấy vài sự thận trọng nho nhỏ có thể làm cho các sự kiện diễn ra như ông mong muốn.

Ở Vơnidơ Ăngtoan sinh hoạt rất bổ ích. Hàng ngày, được Giăng hướng dẫn, anh vẽ những bức phác hoạ và rất vui mừng thấy mỗi lần vẽ lại vững vàng, chắc chắn hơn lên.

Giăng đã đưa anh đến với giới nghị sĩ và sinh viên mỹ thuật. Ở môi trường này anh đã khám phá ra rằng - dù rõ rằng họ có những suy nghĩ phóng túng trong một số trường hợp mà nền giáo dục Nhà thờ của anh coi là tội lỗi - nhưng họ lại là những người vô cùng nghiêm túc trong nghề nghiệp và thường lịch lãm hơn trong lĩnh vực lịch sự. Họ thường hiểu biết hơn anh về các trào lưu tư tưởng hiện đại đang từ nước Ý tràn lan ra khắp các nơi trên thế giới. Mọi người như một họ, họ yêu cuộc sống phong phú mà những người Hy Lạp cổ từ nhiều thế kỷ trước đã tìm được cách đảm bảo cho mình. Nhận thức ấy làm cho Ăngtoan cảm thấy cần củng cố lại việc học tiếng Hy Lạp của mình với dụng tâm ít nhiều đã rõ nét là một ngày nào đó sẽ đi thăm các trung tâm văn hoá nổi tiếng của Hy Lạp cổ và có thể là đọc lại các tác giả cổ điển lớn bằng ngôn ngữ gốc của nghệ thuật và khoa học.

Trong những thư viện trang bị rất phong phú của Nhà thờ Thánh Mác và những tủ sách tuyệt vời của bá tước Kirina Xtămplia, các sinh viên được tự do vào lâu đài của ông ở ở phố Thánh Maria Phomôda, Ăngtoan làm quen lại với bộ Anphôrixmơ của Hypôcơrát, với những tác phẩm đặc biệt trong sáng của Xendơ, Avixen, Galiêng, Maimônit - người thầy thuốc Do Thái, Rai đơ - người Môrơ và của những nhà trí thức ưu tú tiếp nhận đó.

Khi anh đến trước ngôi trường, và nhất là khi anh bước vào hội trường rộng lớn, trần chạm trổ vẻ cổ kính, Ăngtoan thấy lòng mình tôn trọng sâu sắc nghề nghiệp đáng quý này. Rồi khi đứng lên bục, bản Điều trần mở trên giá trước mắt, anh cảm thấy một sự phấn khích mà anh chắc rằng cái đó đã nâng đỡ anh Misaen của anh xưa kia. Không phải chỉ là niềm hãnh diện về tác phẩm của riêng mình mà là một mối quan hệ thấn thiết với tia sáng thần thánh đã vượt qua những luật lệ bần tiện của con người, vượt qua những suy nghĩ lạc lõng khắc nghiệt cuồng tín của Canvanh hay những khẳng định không kém phần khốc liệt vì không hiểu biết của Nhà thờ La Mã.

Trước mặt anh, các thầy thuốc ở Vơnidơ ngồi trên hàng ghế đầu tiên, phần nhiều là ông già, vì rằng từ thầy giáo đến những người tập sự đều học y học ở nơi này cũng như ở các giảng đường trường đại học. Các học sinh tụ họp lại ở cuối phòng, đó là những thanh niên trịnh trọng, mặc áo đã sờn và rõ ràng là bị xúc động vì kính trọng của mọi người đối với người thầy thuốc trẻ tuổi ở Pađu bên cạnh đã đến đây. Cùng Ăngtoan, người thầy thuốc và giáo sư Phalôpiút ngồi trên bục.

Phấn khởi và yên tâm vì sự có mặt và hỗ trợ của thầy giáo, Ăngtoan bắt đầu nói. Lúc đầu, giọng anh ngập ngừng, rồi càng nói càng vững vàng. Anh phát triển đề tài đã nghiên cứu thành công, đưa bằng chứng là Misaen đã khám phá ra sự thực trước anh, và như thế thì vinh quang chỉ dành cho một mình Misaen Xecvêtut.

Lúc anh kết thúc, một tràng vỗ tay nổ vang. Các thầy thuốc quây lấy anh để chúc mừng. Khi mọi ồn ào đã lắng xuống, cụ Phalôpiút đi bên anh ra khỏi hội trường rộng lớn:

- Tương lai tốt đẹp đấy, Ăngtoan ạ, một tương lai tốt đẹp đang chờ đón anh. - Vị giáo sư già nói. - Việc từ chức của tôi đã được chấp nhận vào niên học tới. Tôi đã cho ghi tên anh vào đầu danh sách những người đề cử vào chức giáo sư cơ thể học ở Pađu.

Ăngtoan ngạc nhiên không nói nên lời, cảm động đến nỗi không thở được điều hoà. Anh đoán rằng cụ Phalôpiút đã hành động sớm hơn cụ có ý định trước đây để việc ấy có thể nâng đỡ anh trong trường hợp có khó khăn gì, kể cả nếu có nguy hiểm gì xảy ra do sự phát hiện của anh.

- Đừng cảm ơn tôi, Tôniô ạ! - Cụ Phalôpiút nói. - Tôi làm việc này đặc biệt cho trường đại học nhiều hơn là cho anh. Bởi vì tôi chắc chắn rằng thế giới, trong tương lai, sẽ chịu ơn nhiều đối với những gì anh còn có thể phát minh ra nữa.

- Điều đó tuỳ thuộc ý Chúa! - Ăngtoan mãi mới thốt ra lời, lòng đầy nhiệt thành.

- Anh đã gặp điều gì phiền phức từ phía Nhà thờ chưa?

- Chân lý được chứng minh quá rõ ràng nên không có cách gì bác bỏ được ạ.

Cụ Phalôpiút hãm bớt ngay niềm phấn khởi tin tưởng:

- Nếu ở địa vị anh, tôi chưa yên tâm như vậy đâu. - Cụ nói với anh kiểu báo trước. - Tuần vừa qua, tôi đã tiếp một người, tôi cam đoan rằng hắn là nhân viên của Toà giáo.

Những từ ấy đủ làm cho huyết quản Ăngtoan băng giá.

- Của toà giáo? Hắn muốn gì vậy, thưa thầy?

- Không có gì rõ rệt cả. Hắn khoe khoang rất quen anh. Nhưng hắn cũng khoe rất biết anh của anh và các luận văn của anh ấy.

- Poocdia rồi! - Ăngtoan thốt lên.

- Tên hắn đúng như thế đấy.

- Hắn đúng là một nhân viên Toà giáo đấy, thưa thầy! Và khó có thể tìm được người trơ tráo hơn hắn.

- Nhưng ai là người nấp sau hắn?

Xécvê cay đắng trả lời:

- Cha Phêlíp Xăngtốt.

- Tu viện trưởng dòng Đôminich ư?

Ăngtoan vắn tắt kể sơ qua cho cụ Phalôpiút nghe cuộc tranh luận của anh với tu viện trưởng, nhưng bỏ qua không nói gì đến bức tranh.

- Khá nghiêm trọng đấy! - Cụ Phalôpiút nghiêm nghị thừa nhận. - Họ không thể tấn cống anh trong lĩnh vực khoa học, ở Vơnidơ này. Nhưng chú ý đừng cho họ nắm được cái gì trong lĩnh vực cá nhân, trong phạm vi riêng tư.

- Thưa thầy, tôi không có sơ xuất gì cả, - Ăngtoan quả quyết như thế. - Trước đây và hiện nay, tôi luôn là một người sùng đạo.

Ra khỏi toà nhà, cụ Phalôpiút đưa tay bắt tay anh.

- Đành vậy và mọi sự đều tuỳ theo sự khoan dung của Chúa! Tôi trông cậy ở anh về vấn đề tiếp tục giảng dạy môn cơ thể học mùa thu này. Có thể khẳng định trước được rằng các chứng minh của anh sẽ đạt nhiều kết quả hơn, được nhiều người tán thành hơn bao giờ hết.

Ăngtoan gọi một chiếc thuyền ở phía trước nhà trường và ngồi dựa trên đệm. Anh lo lắng. Điều cụ Phalôpiút nói về Poocdia thật rắc rối. Tại sao cha Phêlíp lại tiếp tục tung tên thấp béo theo dõi anh khi ông ta đã nhận lời hứa sẽ im lặng của anh như nhận tiền mặt? Phải chăng về phía ông ta, tu viện trưởng đã quyết định không giữ lời hứa trong sự việc đã thoả thuận? Và ông ta đang tìm một bằng chứng mới nào đó để làm chỗ dựa cho việc buộc tội tà giáo chưa hề được bỏ qua trong một trường hợp nào, dù ở Vơnidơ? Nỗi lo ấu ấy làm cho Ăngtoan rùng mình. Tất cả niềm vui thắng lợi khi ở nhà trường đã biến mất.

Anh hồi nghĩ rằng hình như anh chỉ gặp những điều rắc rối từ khi phát hiện ra bức tranh của Bôtixeli. Tuy nhiên, anh không thể đổ lỗi cho nữ thần. Nàng rất đáng mến, toàn diện, rất đức hạnh và tốt lành, làm thế nào mà có lỗi được. Nghĩ rằng nàng bị cái nhìn khoái lạc của Xăngtốt xúc phạm, anh bừng bừng tức giận.

- Tránh nào, - người chèo thuyền kêu to và thuyền quay mũi đi vào con sông đào nhỏ hẹp ngăn cách nhà ngục mới xây của chính phủ với toà lâu đài trang trí lộng lẫy của vị Thống đốc.Trên cao, ở rất cao phía trên đầu mọi người, vành cong của chiếc cầu có mái nối liền hai toà nhà. Không phải chỉ có tội nhân đã đi qua để đến sân nhà tù mà ở đấy cái chết đang đợi họ. Dù chiếc cầu ấy mới hoàn thành có mấy năm nhưng người Vơnidơ đã mệnh danh cho nó là "cầu bi ai!"

- Đi dưới gầm "cầu bi ai" tốt hơn là đi ở trên đó, - người chèo thuyền nói và làm dấu thánh.

Và, tuy rằng lúc này là thời gian làm lễ Thánh Giăng trong mùa hè, Ăngtoan Xécvê vẫn rùng mình, anh lạnh giá vì cái u ám của điềm xấu.

Vào cuối tháng Bảy, Ăngtoan nhận được một bức thư từ Luân Đôn do một người phụ việc nhà in của ông Ghiđôbanđô Anđini mang đến cho anh.

"Thưa ông rất tôn kính.

Ông Ghiđôbanđô Anđini đã có lòng tốt gửi đến các xưởng in của tôi ở Luân Đôn những tờ in rất đẹp cuốn Điều trần của ông nhan đề De Motu Sanguinem Pulmonale (6). Xin ông rất tôn kính nhận cho những lời ca tụng của tôi đối với phát minh vô cùng quan trọng của ông về môn cơ thể học. Tôi đã tự ý đưa cuốn Điều trần của ông cho bác sĩ Giôn Caiơ, khi xưa là sinh viên y khoa ở đại học đường Pađu và bây giờ là thầy dạy ở trường Gông vin và Caiơ. Bác sĩ Caiơ nhờ tôi chuyển đến ông những lời chúc tụng nhiệt thành trong khi chờ dịp để đích thân đến chúc mừng ông. Ông ấy cùng với tôi xin ông cho chúng tôi đặc ân được xuất bản cuốn Điều trần của ông ở nhà in của tôi ở Luân Đôn để các thầy thuốc ở Anh cũng có thể biết được một phát minh quan trọng như vậy.

Nếu ông vui lòng cho phép điều chúng tôi yêu cầu, xin ông báo cho ông Ghiđôbanđô Anđini, ông ấy có quan hệ đều đặn với tôi.

Valentin Xim, người in ấn ở tại Luân Đôn.

Nhãn hiệu Thiên nga trắng, Eđơlinh"

Ăngtoan trả lời ngay rằng anh đồng ý cho họ làm theo yêu cầu. Mặt khác, anh rất phấn khởi về sự đón tiếp cuốn sách của anh ở Vơnidơ và các thành phố lân cận. Anh được cử làm Uỷ viên của Hội ái hữu các thầy thuốc và trường đại học ở Bôlônhơ (7) đề nghị anh nhận ghế giáo sư cơ thể học.

Bức thư của ông Girôlamô Belacmi đến làm tăng thêm phức tạp trong cuộc sống nhiều xáo động của anh. Anh đưa nó cho Giăng, Giăng chăm chú đọc và khẽ nói:

- Lão Belacmi này là một thằng cha quỷ quyệt. Hắn đã tính toán công việc theo cách để cho cậu gần như bắt buộc phải đem bức tranh đến cho hắn, như vậy sẽ tránh được cho hắn những phiền phức tốn kém.

- Mình cũng sẽ phải làm như thế đối với ông ta, - Ăngtoan thừa nhận.

- Trời ơi! Khi nào cậu mới thôi không tranh luận với cái lương tâm lố bịch do rủi ro mà cậu có ấy, Tôniô? - Giăng lầu bầu rồi lại cầm bút vẽ. - Không có cái gì cả, tuyệt đối không có cái gì bắt buộc cậu phải đem bức tranh ấy đến cho ông ta cả.

- Mình sẽ phải làm như thế. - Ăngtoan bướng bỉnh nhắc lại. - Mình đã tìm thấy bức tranh mà.

- Đúng thế! Rồi sao nữa? Đủ rồi chứ?

- Nếu mình kịp thời nói về bức tranh với ông Belacmi thì ông ta đã đem nó theo được rồi.

- Đừng có ngu như lừa ấy! Trước khi cậu gặp họ, ông ta với cháu gái ông ta ấy, mình đã bảo rằng bức tranh ấy sẽ không bao giờ rời khỏi Pađu kia mà. Điều xảy ra chỉ chứng tỏ mình nói đúng.

Giăng lại tiếp tục vẽ.

- Hãy thôi đi đừng đưa vai mang lấy gánh nặng của cả thế giới nữa, Tôniô ạ. Cậu cần nghỉ ngơi và thanh thản hơn cần đến mọi thứ khác.

Mặt anh bỗng rạng rỡ.

- Chà! Ngày lễ Đấng Cứu Thế sẽ tiến hành vào thứ sáu, chúng mình sẽ dự lễ đấy.

Lễ Đấng Cứu Thế là một trong những ngày lễ tôn giáo mà người Vơnidơ rất ưa thích. Lý do là thể hiện lòng sùng đạo nhưng đây là dịp tốt để toàn thể mọi người được một ngày nghỉ ngơi thoải mái, tiệc tùng, nhảy múa, tổ chức các đám rước, trình diễn sân khấu và cũng không lơ là chút nào với những cuộc vui đùa, những bỡn cợt về tình yêu.

Ngày hội bắt đầu trước bình minh, Giăng cùng với Ăngtoan biến vào trong đoàn người trùng điệp ngồi đầy các thuyền gông đôn trang trí bằng các loại đèn lồng bằng giấy, thành hàng, thành đám, thành những làn sóng, các con thuyền đầy ánh sáng vui tươi từ các sông đào xuôi xuống và hợp lại thành một con rắn dài nhiều màu sắc đi vào sông Lidô, ở đây, lúc mặt trời mọc sẽ là lúc bắt đầu các cuộc vui.

Đây là một đám rước nhiều màu sắc sặc sỡ, bồng bềnh trên mặt nước và trong đám rước này mọi người cùng nhau ca hát. Người ta mang mặt nạ, người Vơnidơ phục hồi kiểu này vào mọi dịp, - thuyền gông đôn cũng nhiều, trên thuyền các nhạc sĩ chuyển từ dạ khúc sang ca khúc bình minh, làm các cô gái đẹp say đắm tình yêu của họ.

Ăngtoan tự nhận rằng anh cũng vui chơi thoả thích và quên mọi lo âu.

Khi họ ở sông Lidô về chỉ còn kịp ăn qua loa trước khi mở màn giai đoạn thứ hai của ngày lễ.

Trong thời gian nghỉ ngơi này, những con thuyền giống như những phụ nữ xinh đẹp, đã thay đổi trang phục. Những tràng hoa bằng nến cháy sáng được thay thế bằng hoa tươi. Kết thành bó, thành vòng, thành ôm, thành khóm, những đài hoa rực rỡ trang trí các con thuyền. Mọi người tiếp tục bồng bềnh trong một thế giới âm thanh và màu sắc, các hương thơm góp thêm một nguồn vui cho các giác quan. Những bộ áo lộng lẫy của các bà, các cô, y phục đầy trang sức của nam giới hài hoà tuyệt vời với những vườn hoa di động ấy.

Đi đầu đám rước, một đoàn thuyền gông đôn trang trí lịch sự chở giới tuổi trẻ rực rỡ của thành phố. Đoàn thuyền khác theo sau, mỗi thuyền mang một công trình kiến trúc nhẹ nhàng gợi lên một sáng tạo nào đó của Lêôna Đơ Vanhxi. Trong không khí êm ả, tiếng ca hát vang lừng.

Trên những thuyền lớn trình diễn các vở về đề tài tôn giáo, ở những thuyền khác diễn các vở về hài hước, trong khi ấy, ở khắp nơi, chung quanh lâu đài Thống đốc, mọi ngõ ngách của thành phố, hằng hà sa số những thuyền gông đôn trang trí đẹp đẽ bơi theo, giống như một con rắn đầy màu sắc, đang mềm mại uốn khúc trong thành phố.

Giăng, Ăngtoan và mấy người bạn nghệ sĩ thưởng thức quang cảnh này trên chiếc gông đôn của Matêi mà Giăng đã thuê suốt cả ngày. Hoàng hôn đã xuống khi họ trở về xưởng vẽ của Xavarinô.

- Cậu vui chứ, Tôniô? - Giăng hỏi bạn khi Đimát dọn bữa ăn tối.

- Rất vui.

- Còn có cái mê hơn nữa, anh bạn ạ.

- Còn gì nữa?

- Tối nay cậu sẽ tham dự một việc gì đó thật phi thường. Lôđôvixi Anhôlô sẽ biểu diễn một trò ảo thuật.

Mắt Ăngtoan sáng lên:

- Ồ! Mình mong đợi mãi dịp này. Trò ấy diễn ở đâu đấy?

- Ở một nơi mình biết, nhưng họ giữ bí mật.

- Tại sao thế?

Giăng nhún vai:

- Các nhà chức trách cấm trò ảo thuật đen (8). Tà giáo mà.

- Ảo thuật đen à? - Ăngtoan thong thả nói. - Vậy thì... chúng mình có nên đi xem không?

- Trò đã cấm thì càng đáng xem!

Ăngtoan nghi hoặc lắc đầu:

- Mình chưa chắc như thế!

- Một nhà bác học, nhà khoa học như cậu cần phải bị ảo thuật hấp dẫn, rất cần thế. - Giăng chế giễu.

- Nhưng mình không tin kia mà.

- Tối nay cậu hãy cứ đến xem, - Giăng nói, vẻ bí mật. Tối nay cứ đến, rồi cậu sẽ quyết định sau rằng cậu tin hay không tin. Cậu cứ xem Anhôlô diễn đã. Đừng nói trước.

Ăngtoan đã học được nhiều điều ở Vơnidơ và đã từ nhiều tuần lễ trước, anh tưởng mình có thể thông thạo đường lối ở đây cũng như ở Pađu, vậy mà chiều nay anh cảm thấy lạc lõng rất lâu trước khi đến được chỗ tụ họp. Matêi mềm dẻo đu mình ở đầu sào, khéo léo sử dụng chiếc bơi chèo dài, đưa chiếc thuyền nhẹ lúc sang phải, lúc sang trái, trong những con sông ngày càng hẹp cho đến khi mũi thuyền họ chạm vào bờ, chỗ ấy hình như là cổng sau của một toà nhà hoang tàn. Bến chật chội, đây chỉ là một bờ đá bên sông sát với một bức tường rêu phủ.

Giăng bảo Matêi đợi anh và dẫn Ăngtoan vào một lối đi men theo toà nhà để đến cửa chính. Đẩy chiếc cửa song sắt chỉ còn bám lệch vào chiếc bản lề cuối cùng, hai người bạn đi qua cái sân nhỏ của một toà giáo đường cũ gần như đổ nát ở giữa có dấu vết của một đài nước và cuối sân là những bức tường đổ của nơi thờ chính. Giăng gõ mấy cái vào cánh cửa gỗ nặng nề. Cửa hé mở để lộ ra một con người hình dáng ghê tởm, vai và lưng bị một chiếc bướu to làm dị dạng. Con mắt nghi ngờ của hắn sáng lên khi trông thấy đồng tiền vàng sáng loáng trong tay Xavarinô: đồng tiền vàng chuyền tay và cửa mở ra.

Giăng và Ăngtoan tìm được chỗ ngồi ở ngay hàng đầu dù rằng toà giáo đường đã đầy một nửa. Hai ngọn nến đang cháy trên cây đèn gắn ở hai bên tường, hoà với ánh nến yếu ớt là ánh trăng xối từ các khe hở trên mái nhà xuống. Các ghế dài đều bị mọt đục, sàn nhà long lở, các tấm gỗ trắng mờ ảo, các xà nhà và đòn tay trần trụi nổi lên trên nền trời giống như những rẻ sườn gãy của bộ xương người. Ở chốn khủng khiếp này, tất cả đều nói lên sự thối rữa, đổ nát, chết chóc.

- Tại sao hắn lại chọn một chỗ như thế này nhỉ? - Xécvê lấy làm lạ.

Cách làm biến dạng một nơi trước khi vốn là nơi thiêng liêng làm cho anh khó chịu.

Giăng cười khẩy:

- Lôđôvixi xưa kia là linh mục. Có lẽ hắn cảm thấy nơi này thân thuộc với hắn chăng?

Một ánh sáng loé lên sau tấm màn kéo ngang qua lòng nhà thờ. Đằng sau màn có những bóng người cử động và dấu hiệu sắp bắt đầu buổi diễn ấy gây xáo động trong lòng người xem.

Giăng thích khuỷu tay báo động cho Tôniô:

- Mở to mắt ra mà nhìn cho kỹ, - anh nói - Cậu sẽ không bao giờ thấy lại được cảnh này đâu.

Hai đứa trẻ trong ban đồng ca kéo màn sang hai bên, hai đứa trẻ rất xinh đẹp và nhất là trong trắng lạ lùng. Những chiếc áo trắng tinh không vết bợn cổ tròn hồ cứng của chúng khuất một phần sau các nếp màn. Màn mở ra để lộ phía đầu giáo đường, và như để che đậy tình trạng đổ nát thảm trắng căng dọc tường. Phía trong cùng có một khung cửa hẹp, có lẽ là cửa kho đồ thánh, phủ rèm đen.

Tôniô trông thấy ở phía đầu giáo đường có một bàn thờ dài và hẹp như một chiếc quan tài, giống chiếc quan tài một cách kỳ lạ. Khi mắt anh quen dần với ánh sáng bập bùng của những ngọn nến, người thầy thuốc trẻ tuổi nhìn rõ một hình dáng đặc biệt nổi trên mặt bàn thờ, hình của một cơ thể người nằm dài, bất động, dưới một tấm khăn phủ.

- Giăng! Có người dưới tấm khăn phải không? - anh khẽ hỏi.

Giăng bật cười:

- Đúng rồi. Người nữ đồng trinh.

- Người nữ đồng trinh? Nữ đồng trinh? Đức Thánh Mẫu ư?

- Không, không phải đâu. Người nữ đồng trinh để dâng lễ. Đây là buổi hành lễ đen mà.

Buổi hành lễ đen! Chỉ nghe những từ ấy, toàn thân Xecvêtut đã bừng bừng công phẫn. Anh đã nghe nói đến những buổi dâng lễ giễu cợt này - lễ Gia tô giáo bị trá hình và chế nhạo? - Ở đây, quỷ được tôn kính thay cho Chúa, bánh thánh bị xúc phạm giữa những sự thô bỉ không thể tả được. Theo những điều kể lại, việc hy sinh không thể tả được. Theo những điều tả lại, việc hy sinh Nữ đồng trinh làm cho kinh khủng đến tột độ.

Hoảng kinh, Ăngtôniô đứng dậy nhưng Giăng đã ấn anh ngồi xuống.

- Đây không phải là buổi hành lễ thực sự. Anhôlô dùng thi thể để biểu diễn ảo thuật đấy.

Tôniô bớt căng thẳng một chút. Dù sao, nếu không phải là sự báng bổ, thì xem một nhà ảo thuật hành nghề là một điều lý thú. Mấy đứa trẻ trong ban đồng ca rời khỏi phía sau rèm và ngồi vào chỗ ở hai bên gian thờ,

Ăngtoan choáng người nhận thấy rằng chúng không phải là trai như anh tưởng mà là gái đã dậy thì, biểu hiện rõ ràng, vì dưới bộ áo bằng sa trong suốt chúng hoàn toàn khoả thân.

Giăng lại thích khuỷu tay vào sườn Ăngtoan và vừa cười vừa thì thầm.

Ở một nơi nào đó phía cuối giáo đường, một tiếng chiêng nổi lên, trầm trầm, trang trọng, êm ái. Những cánh rèm đen che khung cửa nhỏ mở ra cho hai thiếu niên ban đồng ca đi qua, một đứa bưng bình đựng nước thánh và một đứa bưng một đĩa bạc, loại đĩa đựng bánh thánh. Cũng như các thiếu nữ, hai thiếu niên này cùng khoả thân dưới bộ áo trong suốt. Chúng tiến tới, tách riêng ra và đặt lên hai đầu bàn thờ đồ lễ chúng bưng trên tay, rồi thong thả đến ngồi bên cạnh các thiếu nữ.

Một mùi hôi nồng nặc nhanh chóng tràn đầy giáo đường, Ăngtôniô nhận ra mùi nhựa đường cháy kèm với mùi nhựa cây ốc phi tư và lá cà độc dược khô.

Anh tìm xem mùi đó từ chỗ nào bốc ra và phát hiện ngay một đôi nến đen đang cháy trên đôi đế đen ở hai bên giáo đường và toả những luồng khói nặng nề ra khắp phòng.

Tiếng chiêng êm ái lại nổi lên và giữa những ánh rèm đen lại mở ra, một hiình dáng kỳ lạ xuất hiện. Bên cạnh những thiếu niên và thiếu nữ mảnh khảnh, nhẹ nhàng mà hắn lấn ất như toà tháp át các ngôi nhà bé nhỏ, nhà ảo thuật đáng đứng dang hai tay thành một cử chỉ khẩn cầu trông cao lớn phi thường và ánh nến rung rinh phía sau chiếu hắt lên bàn thờ hình bóng nhảy nhót ma quái của hắn. Chiếc áo lễ mặc còn kỳ lạ hơn tầm vóc quái dị của hắn. Chiếc áo ấy giống như áo các linh mục thường mặc khi hành lễ và trùm từ cổ hắn chấm đến đôi giày kiểu Môrơ, bằng vải dày thêu đầy hình vẽ huyền hoặc và kỳ dị: các dấu hiệu của hoàng đạo, các biểu tượng về thiên văn, các hình vẽ phương Đông lệch lạc. Đầu hắn trùm một chiếc mũ đỏ rất chật làm cho nét mặt hắn có vẻ nham hiểm và hai chiếc sừng nhô ra trên mũ ở chỗ thái dương trông càng nham hiểm hơn nữa.

Nhà ảo thuật thong thả tiến đến gần bàn thờ. Hắn nắm một góc chiếc khăn phủ bên trên, giật mạnh một cái và tung lên không, ngay lập tức chiếc khăn biến mất không còn dấu vết. Ăngtôniô thở hổn hển, tay bám chặt vào ghế.

Lúc này bệ thờ lộ ra trước mắt mọi người: một người đàn bà đang nằm trên khoảng không như một bức tượng đặt nằm, chỉ được đỡ ở dưới hai vai và hai đầu gối, cứng như đá hoa cương. Người ấy nằm bất động và trần truồng. Dù mặt người ấy không quay ra phía công chúng nhưng Ăngtoan từ mấy tháng nay đã thường nhìn, ngắm cơ thể hoàn hảo này nên không thể không nhận ra đó là Cơlarit Xtơrôdi.

Nhưng điều kích thích sự chú ý của Xecvêtut là sự cứng đờ lạ lùng kia vì không có con người nào có thể giữ được tư thế ấy quá mấy phút. Trạng thái cứng đờ như xác chết ấy không thể giữ nguyên lâu như thế được. Mà Cơlara (9) không chết: một hơi thở nhẹ nhàng nâng ngực cô lên rồi lại hạ thấp xuống thật nhịp nhàng, đều đặn. Cô ta bị một quyền lực kỳ lạ nào chi phối? Phải chăng đây là một thứ pháp thuật đã làm thất bại các quy luật bất di bất dịch của tự nhiên? Quyền lực bí mật của Anhôlô là cái gì? Tất cả hiện tượng này, nói cho cùng, phải chăng chỉ là ảo ảnh?

Như để trả lời câu hỏi thầm lặng này, Anhôlô ra hiệu cho một thiếu niên. Cậu bé chống tay và quỳ gối xuống rồi bò qua khoảng giữa hai trụ đỡ Cơlarit, bò từ bên này sang bên kia chứng tỏ rằng giữa những trụ ấy không có một vật gì chống đỡ mà ở xa không nhìn thấy. Chỉ có một khoảng trống mà thôi.

Trong khi ấy, Anhôlô đi vòng quanh bệ thờ, hắn quay mặt lại bệ thờ và quay lưng lại phía hàng rào chỗ ban thánh thể, cúi người xuống và uốn gối như thường lệ: hơi cúi khom, rồi cúi thấp hẳn. Bằng một giọng nhạo báng, hắn đọc kinh, bốn giọng nói non trẻ có nhiệm vụ đáp lại những lời cầu nguyện ở chân bàn thờ.

Rồi Lôđôvixi đứng dậy đến gần bệ thờ, hai thiếu niên đi kèm hai bên. Một đứa cầm chiếc đĩa bạc và cố sức giơ cao lên.

Ăngtoan vô cùng ghê tởm trước việc nhạo báng thô lỗ sự bí ẩn thiêng liêng, nhưng tính tò mò khoa học lại trội hơn, làm cho anh băn khoăn đến nỗi phải thổ lộ với Giăng:

- Làm thế nào mà hắn giữ được cô ta cứng đờ như thế trong khoảng không nhỉ?

Giăng bàng quan trước vấn đề ấy, anh hướng về cảnh đang diễn ra, nhún vai:

- Làm sao mà mình biết được? Lại một trò lừa gạt nào đó chứ gì...

Như thế chưa đủ làm hài lòng Ăngtoan. Đó là ảo thuật chăng? Hay là thực? Cho đến nay, anh chỉ có thái độ khinh rẻ những kẻ là đồ đệ của quỷ Xatăng. Trí tuệ khoa học, chính nó, đã bảo anh rằng mọi sự việc trên thế giới này đều có thể giải thích một cách lôgic. Nhưng cái mà anh đang nhìn thấy trong lúc này không giống bất cứ một hiện tượng có thể giải thích nào anh đã từng biết.

"Người là Cha của sự dữ, là người sinh ra tội lỗi!" Tiếng của Lôđôvixi đang cất lên đọc một bài ca ngợi... phỉ báng. Đứng trước một bệ thờ có ý nghĩa báng bổ là cơ thể Cơlarit, nhà ảo thuật giơ thay hành lễ: "Xa tăng, người là Cha của sự xấu, là Chúa của khoái lạc, là nguồn bất tận của sự cường tráng và mọi đam mê vô đạo lý, là thầy của những kẻ vô liêm sỉ và những kẻ tà dâm".

Mùi diêm sinh thoang thoảng trong không khí. Những cây nến đen cháy rực hơn, những điều lạ lùng ấy không phải là cái làm cho Ăngtoan băn khoăn, vì đấy không phải là ảo thuật, hay trò ma quỷ, chỉ suy nghĩ đơn giản cũng đủ hiểu rằng khi để nến, đến một đoạn nào đó, người ta đã trộn diêm sinh vào sáp và mỡ bò, và lúc này lửa vừa cháy đến đoạn ấy. Tuy vậy, sự huyền hoặc của những câu phù chú bất kính làm cho mơ hoảng, mọi sự được xếp đặt một cách rất hoàn hảo để tác động đến trí tưởng tượng, cho nên những người dự ở đấy chắc sẽ cho rằng mùi diêm sinh thoang thoảng ấy báo trước sự hiển diện vô hình nhưng có thực của ác quỷ.

"Người dìu dắt và nâng đỡ những kẻ đàng điếm". Giọng nhà ảo thuật cao lên một cung, to hơn lên, sôi nổi hơn và Ăngtoan có cảm giác chờ đợi một cách lo lắng gần như không thể chịu đựng được, hình như quỷ Xatăng sắp sửa đáp lại lời kêu gọi và hiện lên trước mắt mọi người. "Người là Cha của những kẻ quyến rũ và những kẻ sát nhân, là chủ của những tên trộm cắp và phù thủy, chúng tôi xin chào Người. Hãy dạy chúng tôi buông thả mình hoàn toàn để phục vụ Người.

Hãy đến thăm chúng tôi trong đêm nay, đến nơi chúng tôi đang tụ họp này vì quý mến và tôn kính Người. Hỡi Bạo Chúa! Hãy chiến thắng mà xuất hiện từ lòng người Nữ đồng trinh đang hiến dâng cho sự vinh quang của người. Hãy làm cho nàng biến thành chiếc bình ở đấy chúng tôi hái lượm những gì Người ban...".

Khói dày đặc cuộn thành vòng trước bệ thờ, phình to ra, phủ lên ban đồng ca một tấm màn sẫm và lan ra thành từng mảng về phía khán giả. Mùi diêm sinh hôi đến ngột ngạt, Ăngtôniô cảm thấy chóng mặt. Ở một chỗ gần cuối giáo đường, một người phụ nữ kêu thét lên, một chiếc ghế dài đổ nhào. Hình như trong mây mù của giấc mơ, Ăngtoan trông thấy cảnh ma quái ở chỗ ban đồng ca nổi lên trong khói. Anhôlô đang quỳ gối và bốn thiếu niên nằm lăn lóc trên đất bên cạnh hắn hình như bị một bàn tay khổng lồ quật xuống, bộ quần áo sa mỏng manh của chúng rách bươm, gần như bị giật ra khỏi người. Chỉ một mình Cơlarit, tái xanh và bất động như một bức tượng đá hoa cương là không suy suyển gì. Chiếc bình đựng bánh thánh lăn dưới đất và lúc này Lôđôvixi đã nhặt cả chiếc bình và thức đựng bên trong, đứng lên, cầm mọi thứ trong một bàn tay xoè mở. Giọng hắn lại cao lên, khinh bỉ, vang vang nỗi căm ghét của kẻ đắc thắng.

"Còn ngươi, kẻ mà Bạo Chúa đang căm ghét, ngươi, kẻ đày đoạ những vị quỷ nhân từ, kẻ huỷ hoại mọi linh mục, ta truyền lệnh cho người nhập thân vào chiếc bánh thánh này như nhập vào da thịt thối rữa của người. Hãy làm cho chiếc bánh này đầy sự thối nát nhơ bẩn của nấm mồ, hãy làm vấy nó bằng gỉ của những chiếc đinh đã chọc thủng tay người, hãy làm cho nó thấm máu đã hư hoại chảy trong cơ thể xấu xa của người, làm thế nào, cho thầy của ta là quỷ Xatăng có thể vứt nó cũng như một ngày nào đó Người sẽ hạ ngươi, chính ngươi, quẳng ngươi ra khỏi vị trí ngươi ngồi không đúng chỗ, giày xéo ngươi dưới chân cũng như ta đang giày xéo dưới chân chiếc bánh thánh này vào ngày Người chiếm hữu lại được gia sản mà ngươi đã lấy cắp của Người".

Những luồng khói dày đặc lại cuồn cuộn trước bệ thờ. Bằng một hành động khinh bỉ, Anhôlô nhổ vào đĩa đựng bánh thánh, ném những thức ăn đựng bên trong vào khoảng không, rồi lấy chân hất tung trên đất những mẩu bánh thánh đã bị vấy bẩn.

Lúc này Ăngtoan buồn mửa đến nôn nao cả người trước sự phỉ báng tất cả những gì anh cho là thần thánh, thiêng liêng nhất. Nhưng anh như bị đóng đinh vào ghế. Không thể rời khỏi chỗ ngồi cũng như không thể rời mắt khỏi cảnh đang diễn ra ở chỗ ban đồng ca. Xuyên qua sự lặng lẽ ghê rợn tiếp theo hành động báng bổ kia, nổi lên một tiếng than thở khẽ như cao vút, hình như một nhạc cụ phương Đông ở một chỗ nào đó đã thổi lên một giai điệu kỳ lạ, ám ảnh, bực tức, như buộc người ta phải tuân theo, phải buông thả ý chí.

"Hãy đứng cả lên!- Lôđôvixi quát. - Đứng cả lên, hỡi những bầy tôi của Bạo Chúa! Đứng lên và nhảy múa để chào mừng thầy của chúng ta và mạnh dạn thách thức kẻ bất lực muốn không cho chúng ta vui thú!".

Bốn thiếu niên đang nằm đờ đẫn bên cạnh hắn chồm dậy. Nhạc điệu vô hình càng thê thảm hơn, cấp bách hơn. Bốn cơ thể non trẻ ngủ nghiêng theo nhịp điệu ấy, giày xéo lên những mẩu bánh thánh bị vấy bẩn trong khi thứ nhạc điệu quỷ quái, nhức nhối giống như điệu nhạc của những người thổi để làm mê hoặc rắn, vẫn không ngừng than vãn mỗi lúc một cấp bách hơn.

Ở những hàng khán giả phía trên, một thứ nhạc điệu khác nổi lên, lúc đầu còn thong thả, rụt rè, sau đó như một luồng sóng dữ tràn khắp lòng nhà thờ. Khàn đi vì ham muốn, tiếng của tất cả những người mà nhà ảo thuật đã mê hoặc bằng tà thuật, cùng đồng thanh nhấn từng vần một điệp khúc:

"Lễ hy sinh! Lễ hy sinh!"

Ăngtoan nghe thấy ở bên cạnh anh tiếng Giăng lặp lại và hét to, rồi một tiếng khác, khê nặc vì ham mê, một tiếng nói từ cổ họng, lạ lùng, cũng thét lên điệp khúc ấy. Hoảng hốt vì kinh sợ, Tôniô, không thể chống lại được sự mê hoặc, biết rằng chính anh, đến lượt anh, anh đã vừa kêu lên như quỷ dữ: "Lễ hy sinh! Lễ hy sinh!"

Con dao găm của Anhôlô bắt đầu hạ xuống, thẳng tắp, sát bộ ngực mềm mại đang hiến dâng. Ăngtoan không thể quay đi, không thể nhắm mắt vì đã bị thôi miên bởi cảnh rùng rợn ấy. Con dao găm vẫn tiếp tục ấn xuống và cơ thể trẻ trung, trắng trẻo vẫn vô cảm giác, cứng đờ. Ăngtoan rùng mình đau đớn, và khi con dao cắm lút tận cán vào da thịt mềm mại kia, anh cũng rùng mình vì một niềm vui tàn ác, không tên gọi.

Một luồng máu đỏ phụt ra dưới dao, làm vấy các áo lễ lạ lùng của nhà ảo thuật. Bằng một động tác chính xác và nhanh nhẹn, Anhôlô cầm chiếc bình giơ ra dưới luồng máu đỏ, kề sát bộ ngực bị thương, hứng máu của người bị hy sinh và hét lên một tiếng đắc thắng, hắn giơ cao bình kề vào môi, ngửa đầu ra uống...

Dù giây phút ấy căng thẳng đến tột độ. Ăngtoan vẫn ngạc nhiên rằng cơ thể của Cơlarit vẫn bất động như thế, không hề rung lên, không một dấu hiệu đau đớn, không một phản ứng nào của tình trạng hấp hối. Trạng thái cứng đờ ấy, dù có do sự quỷ quyệt của nhà ảo thuật đi nữa, có thể giữ vững được chăng khi cái chết ập tới?

Bỗng nhiên, át hẳn tiếng nhà ảo thuật, át tiếng nức nở của phụ nữ, tiếng rền rĩ của những kẻ tội lỗi và tiếng nấc của nam giới, những tiếng đập mạnh dữ dội làm rung cửa.

- Mở cửa! - Một giọng nói hách dịch quát lên, - Nhân danh Thống đốc, mở cửa ra!

- Trời ơi! - Giăng thốt lên. - Chúng ta bị phản rồi!

Lúc ấy đám người đầy trong toà giáo đường đổ nát hoảng loạn lên nhưng Ăngtoan nhận thấy Lôđôvixi không hề tỏ ra bị bất ngờ. Có lẽ hắn đã có kinh nghiệm về loại báo động này. Hắn cầm hai cây đèn nến ở hai bên bàn thờ ném xuống đất, lấy chân giẫm tắt lửa. Ngay lập tức, giáo đường chìm trong bóng tối, ánh trăng xuyên qua chỗ nọ chỗ kia giữa các nhà trần trụi cũng chẳng làm bớt tối được bao nhiêu.

Tiếng ồn ào khẽ nổi lên trong bóng đêm. Tiếng Giăng cũng đã lọt vào tai bạn anh:

- Đi theo mình! Chắc chắn chúng ta có thể thoát khỏi đây bằng lối sau.

- Còn Cơlarit! - Ăngtoan hỏi.

Nhưng Giăng đã không nghe thấy tiếng anh nói nữa. Anh ta đang cố tiến đến một chiếc cửa nhỏ rất khó thấy ở một bức tường ngang và nhảy qua các ghế dài không hề quan tâm đến những người ngồi ở đấy. Ở cửa lớn toà giáo đường, tiếng đập càng mạnh hơn và gỗ đã vỡ ra.

Ăngtoan lưỡng lự. Lý trí bảo anh đi theo Giăng, nhưng Cơlarit sẽ ra sao, Cơlarit hiện đang bất tỉnh trên bàn thờ? Có lẽ vết thương của cô không có gì nguy hiểm? Có lẽ đó chỉ là một sự quỷ quyệt chưa giải thích được? Nếu như thế thì cô cần được cứu. Không lưỡng lự nữa, Tôniô quay lại, nhào qua than diêm sinh đỏ rực của mấy cây nến, chống tay lên hàng song chỗ làm lễ ban Thánh thể và nhảy qua. Nhưng anh trượt chân ngã xuống, ngã mạnh đến nỗi anh choáng váng mất một lúc lâu. Anh phải bám vào những trụ đặt Cơlarit mới đứng lên được trong bóng tối ngón tay anh chạm vào người cô. Anh vội sờ soạng chỗ ngực: tim vẫn đập, thong thả, đều và nhịp nhàng. Chúa thật nhân từ! Không còn nghi ngờ gì nữa, đây không phải là tim của một người đang hấp hối vì bị tử thương.

Vậy thì đó chỉ là một trò xảo quyệt, tạ ơn Chúa! Nhưng Lôđôvixi cũng như những người khác bị thôi thúc bởi ý muốn trốn chạy đã bỏ mặc cô ở đấy, không thể cử động được, trong tình trạng cứng đờ kỳ lạ, mà không một chút quan tâm đến số phận đang đợi cô trong tay bọn tuần tra. Dù thế nào đi nữa, số phận ấy thực không đáng mong muốn.

Ăngtoan kề vào tai gọi tên cô, dù cô bất động, không nói được tiếng nào, nhưng anh có cảm tưởng như cô có nghe tiếng anh gọi và môi cô động đậy.

Phía sau anh, trong giáo đường tối mò, tiếng kêu của những người bị vây hãm và tiếng búa của những người muốn xông vào đang bổ vào cửa ngày càng ầm ĩ hơn. Mắt Ăngtoan bỗng nhìn thấy con dao găm, vệt sẫm đặt trên vệt trắng mờ như sữa là cơ thể Cơlarit. Anh giấu dao vào áo và giật một miếng vải trên tường bọc nhanh lấy người phụ nữ trẻ. Ôm cô trong tay - thân thể cứng đờ của cô làm thành một bọc rất dài và cồng kềnh - anh đi nhanh về phía chiếc cửa nhỏ có rèm che ở cuối giáo đường. Anh vừa bước qua cửa sổ đã nghe tiếng cửa lớn bật mở và bọn tuần tra ùa vào giáo đường như nước chảy.

Hạnh phúc thay, khuôn cửa nhỏ không mở vào kho đồ thánh hay đường cụt, Tôniô trông thấy hàng loạt bậc thang, anh bước xuống, loạng choạng vì cái bọc cồng kềnh. Anh cảm thấy không khí ẩm, lạnh hơn và hết lòng cầu chúa cho cửa phía dưới sông vẫn mở và không bị canh giữ. Hồi hộp, anh tụt xuống đến bậc đá hẹp là bến sống duy nhất. Anh cố đứng vững ở đây. Nhân danh Chúa! Cuộc chạy trốn đến chỗ hiểm nghèo nhất, vì làn nước sẫm của con sông đào đang vỗ ngay dưới chân và anh biết rằng chỉ còn vài giây nữa bọn tuần tra sẽ tìm thấy chiếc cửa nhỏ của giáo đường.

Nếu chỉ có một mình, anh sẽ nhào ngay xuống nước vì anh bơi rất thạo và dai sức. Nhưng còn Cơlarit! Tình trạng của cô khiến cho không thể làm như thế được.

Trong khi anh lo lắng lật đi lật lại vấn đề trong đầu thì có bóng một chiếc gông đôn men theo dọc sông, ẩn trong bóng tối. Anh nhận ra người chèo thuyền thấp lùn đang đưa bơi chèo.

- Đây! Matêi! - Anh gọi - Matêi ơi!

Chiếc thuyền lao như một mũi tên và chạm bến ngay dưới chân anh. Tôniô nhảy xuống cầu thuyền vội vã đến nỗi trọng lượng của anh cộng với Cơlarit, suýt làm lật chiếc thuyền nhẹ. May mà Matêi là người chèo thuyền giỏi và vững tay lái.

- Đưa chúng tôi đi khỏi đây nhanh lên. - Ăngtoan thở hổn hển. - Bọn tuần tra... bọn tuần tra... theo chân chúng tôi!

- Đi ngay lập tức đây.

Chiếc gông đôn quay ngược lại và biến vào trong bóng tối. Một lần, hai lần, mười lần, Matêi rẽ từ con sông này sang sông khác. Sau đó, anh đắc ý nói:

- Ngài đã thoát, thưa ngài. Quỷ hiện lên cũng không sao theo nổi chúng ta nữa.

- Tạ ơn Chúa vì anh đã ở đấy, Matêi ạ! Đưa chúng tôi về nhà đi. - Ăngtoan vẫn thở hổn hển

- Phải cảm ơn ông Giăng thì đúng hơn! Ông ấy bảo tôi đợi và xem chừng đón ông - người chèo thuyền khẽ cười và trả lời.

Ăngtoan ném cho anh ta một đồng tiền vàng. Thế là Giăng cũng đã thoát! Cả ba người thiếu chút nữa bị bắt cả. Nhất là Cơlarit, cô đang nằm trên nệm, vẫn cứng đờ một cách kỳ lạ như đã chết.

Cơlarit còn nửa mê nửa tỉnh khi Ăngtoan đem cô đến xưởng vẽ và đặt cô lên đi văng. Cô đặt tay lên trán, uống cốc rượu anh đưa cho và hỏi:

- Tại sao tôi lại đến đây?

- Cô không nhớ gì nữa hay sao, Cơlarit?

Cô lưỡng lự:

- Có... Lôđivixi làm cho tôi ngủ ở giáo đường. Hình như vào một lúc nào đó tôi có nghe tiếng ồn ào... Tiếng kêu...

- Cô ngủ ư? - Ăngtoan kêu lên. - Hắn đã làm cách ấy sao?

Cơlarit mở to mắt và anh kể lại cho cô những nét chính của câu chuyện hồi hôm. Khi anh kết thúc, cô dịu dàng nói:

- Thế là anh đã liều mình để cứu tôi!

Tôniô hơi đỏ mặt:

- Đó là nghĩa vụ, tôi phải giúp cô vì cô bị thương.

Người phụ nữ trẻ hé nhỏ chỗ khăn che ngực: không có một dấu máu nào trên làn da trắng của cô. Cô mỉm cười:

- Anh thấy không... làm gì có vết thương...

- Nhưng máu ở đâu ra?... Còn các thứ khác nữa?... Sao lại có thể thế được nhỉ? - Ăngtôniô kinh ngạc kêu lên.

Cô nhún vai:

- Ồ! Lôđôvixi tài lắm. Một thứ nước hoa quả nào đó có thể làm cho người ta tưởng là máu...

Ăngtôniô tìm trong nếp áo và lấy ra con dao găm, trông đặc biệt khủng khiếp, lưỡi rất mềm. Cơlarit cầm con dao ở tay và đâm thẳng vào ngực mình ngập tận chuôi. Một dòng nhỏ máu đỏ tươi chảy qua ngón tay cô.

- Anh thấy chứ, Tôniô? Đây là một trò thủ xảo.

Lưỡi dao bám sát vào da cô như dao bằng giấy.

- Nhưng làm thế nào lại như thế được? Làm thế nào nhỉ?

Cơlarit điềm đạm rút dao ra, con dao trở lại hình dáng thông thường với vẻ đe doạ giết chóc của nó.

- Người Tây Ban Nha làm thứ vũ khí này cho các nhà ảo thuật, - cô giải thích. - Nguyên liệu từ Tân thế giới đưa về, đây là một chất mà người da đỏ lấy từ vở một thứ cây sồi. Những người làm trò dùng cả đạn bằng chất gỗ xốp để hành nghề.

- Còn máu?

- Ồ! Chuôi dao rỗng. Họ đổ đầy một chất lỏng đỏ vào đó và chú ý để ngón tay bịt vào chỗ hở, khi đâm lưỡi dao xuống, họ sẽ nhấc ngón tay và chất lỏng tia ra.

Ăngtoan xem xét kỹ con dao rồi tuyên bố, không hề giấu giếm sự thán phục:

- Khéo tuyệt vời! Có lẽ có thể dùng chất này làm nhiều thứ nữa...

Nhưng, khi anh hỏi Cơlarit một vài chi tiết về tình trạng cứng đờ như xác chết của cô, cô không thể trả lời được gì cả.

- Tuy vậy, - cô nói - tôi biết điều ấy dễ làm lắm. Tôi đã trông thấy Anhôlô làm cho người ta cứng như đá.

- Hắn đã học điều đó ở đâu thế?

- Ở phương Đông, tôi chắc thế. Tôi đã nghe hắn nói rằng rất nhiều nhà ảo thuật phương Đông đã tạo ra được tình trạng xuất thần, có những người gọi đó là từ tính.

Ăngtoan tỏ vẻ ngạc nhiên một cách vui vẻ:

- Thôi đúng rồi! Đầu óc tôi để đâu nhỉ? Paraxen đã nói đến từ tính!

Cơlarit mệt đến kiệt sức nhưng cô không để lộ ra, cô ngáp và nói:

- Anh có cho rằng đã đến lúc tôi phải về không nhỉ?

- Không, - Tôniô nghiêm trang nói. - Bọn tuần tra đã biết cuộc biểu diễn hôm qua. Chúng cũng không lạ gì là cô làm việc với Anhôlô. Nếu chúng thấy cô như tình trạng hiện nay, chắc chắn chúng sẽ biết rằng chiều hôm ấy cô là một vai phụ của hắn.

Người phụ nữ trẻ bật cười:

- Nếu tôi phải ở lại đây, thì ít ra anh cũng phải cư xử cho lịch sự chứ. Hãy cho tôi một chút thức ăn.

Hai người cùng xuống bếp, ở đấy, họ vui vẻ ăn bất cứ thức ăn gì họ có thể tìm thấy. Thay cho tấm khăn Ăngtoan bọc cô, Cơlarit đã mặc chiếc áo choàng cô thường mặc ở xưởng vẽ. Cô tiếp tục ngáp nhiều lần.

- Tôi sẽ ngủ trên chiếc ghế dài ở xưởng vẽ, - cô nói. - Giăng chắc ở lại nhà các nghệ sĩ bạn anh ấy, những người đã rủ anh ấy đi xem.

- Xưởng vẽ có chìa khoá. - Ăngtôniô lịch sự nói. - Giăng thỉnh thoảng vẫn khoá cửa trong khi anh làm việc.

- Tôi biết, Tôniô ạ! Tôi biết rồi, nhưng đối với tôi có gì là quan trọng? Tại sao tôi không thể tin tưởng tuyệt đối ở anh sau sự việc anh đã làm chiều hôm nay?

Cô kiễng chân và đưa môi khẽ hôn lên môi người con trai, hai chân cô vòng qua cổ anh:

- Chúc anh ngủ ngon. Ngủ cho ngon anh nhé, anh yêu của em!

Rồi cô vào xưởng vẽ trong khi Ăngtoan sửa soạn chỗ ngủ cho mình ở phòng bên cạnh, ngạc nhiên về cảm giác khoan khoái chưa từng biết dâng tràn ngập trong anh. Cuối cùng anh quả quyết rằng niềm vui mới nảy sinh do sự hài lòng đã thoát khỏi đội tuần tra và đã cứu được Cơlarit. Anh nghe tiếng động của chiếc đi văng bên xưởng vẽ khi nàng nằm xuống. Sau đó anh ngủ thiếp đi, vô cùng khoan khoái.

Lúc ấy giấc mơ cũ lại trở lại. Lời hứa của nữ thần khi anh ôm nàng trong tay, bộ mặt chế nhạo của con quỷ, tiếng nói buộc tội của Luxia Belacmi, và cuối cùng là hình ảnh Cơlarit và sự anh bất lực hoàn toàn không tiếp cận được nàng. Một lần nữa anh lại chống chọi, cố gắng, ra sức đến gần nàng một cách tuyệt vọng, lại thấy nét mặt và hình dáng nàng mờ nhạt đi và hoảng sợ vì nghĩ rằng nàng sẽ bỏ mặc anh ở đây, anh sẽ hét lên và gọi tên nàng.

Rồi hình dáng và nét mặt Cơlarit lại đọng lại, hiện lên rõ ràng. Nhưng có sự thay đổi là lúc này nàng mặc chiếc áo ngủ nàng thường choàng lên người sau khi đứng mẫu ở xưởng vẽ, đúng chiếc áo khoác nàng mặc khi hai người từ toà giáo đường báng bổ thần thánh kia trở về và nàng vẫn mặc khi hôn vào miệng anh trước khi đi ngủ. Tạ ơn Chúa, bây giờ nàng không còn là cái bóng mà là một thực tại tốt lành, nhân hậu, hai tay đang ôm lấy anh và tiếng nói đang làm dịu yên nỗi sợ hãi, lo lắng của anh.

Anh nghe thấy tiếng thì thầm:

- Tôniô... mọi sự yên ổn cả rồi, Tôniô...

Tiếng nói đến với anh từ đáy sâu của giấc ác mộng và đưa anh đang mơ hoảng về với thực tại... với cuộc sống... Cơlarit đang ở bên anh, sinh động và dịu dàng.

- Cô đi sao! - Anh kêu lên và níu lấy cô như một đứa trẻ nhỏ vừa tỉnh cơn ác mộng bám lấy người mẹ.

Cô đưa bàn tay êm dịu vuốt ve trán anh và ngọt ngào nói:

- Mọi sự yên ổn cả rồi mà, anh Tôniô... Thế là xong rồi... Tất cả đều đã tốt lành trở lại... - Cử chỉ âu yếm của cô làm anh dịu lại và nằm thoải mái.

Cơlarit nằm xuống bên anh và ôm anh trong tay. Đôi môi mọng và ấm tìm môi anh, những cánh tay âu yếm ôm chặt anh đem đến cho anh sự yên ổn anh đang cần có...

Khi Ăngtôniô thức dậy, ánh mặt trời đã lùa vào cửa sổ rọi vào người anh. Anh chập chờn giữa thức và ngủ một lúc rất lâu, những sự việc đêm hôm trước lại hiện ra như trong sương mù: khi anh tỉnh cơn mơ và thấy mình trong tay người phụ nữ trẻ, sự việc tiếp theo một cách đơn giản, anh cho là sự tiếp diễn tự nhiên, là kết quả bình thường, hợp lý, là việc khó tránh khỏi, là kết quả của giấc mơ, của sự gần gũi nhau, của tình thân mến sâu sắc anh cảm thấy đối với cô và về phía cô, cô cũng vậy, anh biết rõ như thế.

Nhưng khi anh tỉnh giấc hẳn, lương tâm đã sáng suốt trở lại bị điều hồi tưởng kích thích mạnh. Nó nhắc anh rằng thông dâm là một tử tội, chỉ được phép có quan hệ xác thịt với một người phụ nữ khi đã kết hôn trước Nhà thờ. Ăngtoan vùng dậy trên đi văng. Cơlarit đang đi đi, lại lại và khe khẽ hát trong xưởng vẽ ở bên cạnh. Anh khoác áo, mở cửa và thấy người thiếu phụ đang cúi xuống bàn vui vẻ bày các đĩa ăn. Cô quay về phía anh, mắt và miệng đều cười:

- Chào anh, Tôniô của em, - cô nói - Anh đã sẵn sàng để điểm tâm chưa, hở anh chàng lười biếng?

Ăngtoan đến gần cô, hai bàn tay khoẻ mạnh của anh nắm chặt hai vai cô và nói:

- Anh muốn em sẽ là vợ của anh, Cơlarit ạ.

Mắt cô bỗng rớm nước mắt, cô ghé mặt hôn anh.

- Anh đáng yêu lắm, Tôniô, - cô nói, nhưng em không thể lấy anh được.

Anh mở đầu:

- Nhưng chúng mình đã... - rồi anh ngừng bặt.

- Anh định nói rằng chúng mình đã mắc tội thông dâm và lương tâm anh bảo anh phải lấy em chứ gì... Được, nếu anh muốn gọi như thế thì hãy cứ cho rằng chúng ta đã mắc tội ấy đi...

Cô đưa cho anh một đĩa thức ăn và ngồi xuống đi văng, dành cho anh một chỗ cạnh cô.

- Bây giờ anh hãy trả lời em. Có cái gì thật là xấu trong việc chúng mình đã làm không nào?

- Nhưng nhà thờ...

- Anh hãy quên Nhà thờ đi một lát. Tôniô ạ. Anh hãy nghĩ đến chính anh. Tối hôm qua, anh đã cần đến em, và em đã sung sướng vì có thể cho anh được cái mà anh cần đến. Em không bao giờ tin rằng (cô nhìn thẳng vào mắt anh khi cô nói) Đấng sáng tạo lại cấm hai con người hết sức yêu mến nhau cùng tìm được hạnh phúc thực sự. Anh có thể thực sự tin như thế được không?

Trong thâm tâm anh, Ăngtoan nghĩ rằng lời nói của Cơlarit rất đúng, và anh nói những lời thành thực cảm ơn cô.

- Vậy thì, - Cơlarit mỉm cười - anh hãy cho đi lấy quần áo của em đến đây.

Vấn đề ấy được giải quyết dễ dàng khi Đimát đến, mắt còn hơi đờ đẫn vì bữa ăn uống no say hôm trước, tuy vậy anh ta vẫn có vẻ sáng suốt và tỉnh táo. Anh ta được cấp tốc cử đến chỗ ở của thiếu phụ lấy các quần áo cần dùng cho cô.

Khi họ sắp ăn xong. Ăngtôniô trở lại vấn đề anh đang quan tâm, đối với anh, hạnh phúc không làm mất sự liên tục suy nghĩ:

- Anh vẫn muốn biết tại sao Anhôlô lại làm cho em xuất thần như thế được.

- Tại sao anh không hỏi ông ta?

- Nhưng người làm ảo thuật không giữ bí mật nghề nghiệp của họ sao?

- Có lẽ không, nếu đối với các nhà khoa học, trừ khi đối với những nhà ảo thuật khác. Lôđôvixi có tính hay khoe khoang. Tại sao hắn lại không phấn khởi khi thấy anh chú ý?

- Vậy thì, - Ăngtôniô quyết định, - anh sẽ hỏi hắn.

- Đừng nói với hắn... (Cơlarit lưỡng lự bày tỏ ý nghĩ của mình)... Đừng nói với hắn về tối hôm qua, được không anh?

- Được lắm...

Giăng đã nói với anh rằng Cơlarit là tình nhân của Anhôlô, nhưng anh không lý giải vấn đề ấy với mình, đúng hơn là anh cũng không nghĩ đến nó, biết rõ chi tiết này cũng không thay đổi tình cảm của anh đối với cô.

Đây là một phần thay đổi ở anh, anh cũng chưa thể đánh giá đầy đủ sự thay đổi này nhưng đã thấy trước rằng sẽ có nhiều thay đổi trong cuộc sống của mình.

Một người đàn bà trẻ tuổi mặc quần lụa và áo ngắn thêu ra mở cửa nhà Lôđôvixi Anhôlô cho Tôniô. Anh nhận ngay ra cô là một trong những cô gái đã góp phần trong buổi hành lễ đen. Những tấm thảm màu sẫm và các ghế kiểu Phương Đông phủ đệm làm cho căn phòng mang màu sắc phương Đông, các hình vẽ lạ lùng và biểu tượng thiên văn trang trí trên những bức rèm càng làm đậm thêm màu sắc ấy.

Ăngtôniô ngồi trên một tấm đệm đợi chủ nhân tiếp, anh đưa mắt lo lắng nhìn xung quanh. Anh đã suy nghĩ mãi rằng anh có quyền đến nơi này không, nhưng ham muốn được hiểu biết về khả năng của từ tính làm cho anh quên áy náy.

Cách anh mấy bước, có một chiếc bàn trên mặt đặt một quả tròn bằng thuỷ tinh hướng về phía mặt trời đang rọi qua cửa sổ, ánh mặt trời ấy như bị hãm lại trong quả tròn và đỏ rực trong ruột nó như một lò lửa đang cháy. Mắt Ăngtoan luôn quay nhìn về phía cái ánh sáng rừng rực như lửa thực ấy, mỗi lần nhìn vào anh càng khó quay đi. Anh cảm thấy mình chập chờn, mờ hồ, hình như có một sức mạnh bí mật nào đã tách rời tinh thần anh ra khỏi thể xác và chi phối thế xác anh.

- Xin chào bác sĩ.

Ăngtôniô giật nảy mình: nhà ảo thuật đã đứng gần anh đến nỗi nếp áo của ông ta chạm vào tay anh. Bộ mặt rám nắng của ông ta vẫn khó hiểu như mọi khi và thứ điện trong mắt ông ta nhìn mạnh đến nỗi có thể cảm thấy được, Ăngtoan lúng túng, ấp úng nói:

- Xin chào ông.

- Tôi làm ông bất ngờ, xin thứ lỗi.

Anhôlô ngồi xuống chiếc ghế đối diện với ghế của Ăngtoan, Ăngtoan dụi mắt, lo lắng thấy chân tay mình đang như mềm nhũn nặng như chì. Anh nói:

- Tôi nhìn quả cầu pha lê này và cảm thấy mình hơi lao đao.

Nhà ảo thuật cười ngất và nói:

- Quả cầu pha lê của Xamacăng tác động rất mạnh đến tâm trí con người.

Ông ta cầm miếng vải sẫm để trên bàn phủ lên quả cầu làm tắt thứ ánh sáng không cưỡng lại được nó. Ăngtôniô cảm thấy ngay tinh thần thư thái và chân tay thoải mái. Nhà ảo thuật nói:

- Tối hôm nọ ông cũng ở trong số khán giả phải không bác sĩ? Ông có tán thưởng buổi biểu diễn ấy không?

- Một phần trong tôi kinh sợ, - Tôniô thừa nhận như vậy. - Còn phần khác bị mê hoặc.

- Đúng như thầy của tôi là Paraxen đã khẳng định: trong mỗi chúng ta đều có hai con người, - nhà ảo thuật nói ra vẻ thông thái.

- Nhưng buổi biểu diễn ấy cũng là sự việc báng bổ thần thánh.

- Ở đây không có dụng tâm báng bổ. Chỉ đơn giản là một buổi biểu diễn ảo thuật. Một cuộc giải trí, chỉ như vậy thôi. À mà tôi phải cảm ơn ông đã cứu cô Cơlarit một thành viên quý giá của đoàn tôi.

Ăngtoan ghìm lại được cử chỉ kinh ngạc. Vậy là Anhôlô đã biết một phần nào sự việc xảy ra trong đêm ấy. Nhưng biết tới mức độ nào?

- Tôi vô cùng quan tâm đến trạng thái mê man ông đã gây ra cho cô ấy. Tôi chưa bao giờ trong thấy một người sống mà cứng đờ như vậy.

- Điều mà các nhà cơ thể học như các ông không hiểu là những điều rất rõ ràng với các nhà tiên tri Phương Đông chúng tôi.

- Có phải đó chỉ là đánh lừa theo cách phương Đông không?

- Đánh lừa à, ông Ăngtoan? Không đâu! Nói cho đúng thì đây là một quyền lực kỳ lạ mà một số người trong chúng tôi có được.

- Vậy ông giải thích trạng thái cứng đờ ấy như thế nào?

- Có những người đảm bảo rằng đấy là sức mạnh từ tính truyền từ cơ thể nọ sang cơ thể kia.

- Nha vấn đề từ tính của Paraxen nói?

Mắt nhà ảo thuật thoáng ánh lên vẻ khen ngợi:

- Bác sĩ là người rất am hiểu. Nhưng tôi không chắc rằng đấy là sức điện.

- Dù sao đi nữa tôi cho rằng có thể dùng sức mạnh ấy một cách hữu ích để chữa bệnh.

- Tôi đã trông thấy không phải chỉ một lần cách chữa bệnh như thế ở Phương Đông, - Anhôlô trả lời - Ông có muốn học cách ấy không?

- Có thể dạy điều đó được sao? Ông có thể dạy tôi được không?

Ăngtoan bồn chồn vì băn khoăn và hy vọng. Việc đề xuất thật vượt quá điều anh dám mong muốn.

- Có những người có thể tiếp thu và rèn luyện được nếu sức mạnh tinh thần của họ đủ điều kiện. Và tôi cho rằng ông có đủ sức ấy đấy.

- Có thể làm cho ai cũng mê được không? Dù muốn hay không muốn?

- Đối tượng phải bằng lòng, - Anhôlô trả lời. - Nhưng có nhiều phương pháp làm mê một cách dễ dàng. Ví dụ như rất dễ thôi miên người nào hay xúc động mạnh, hay là sợ chẳng hạn. Thật ra cũng có thể nói rằng nhiều người dù chống cự lại cũng bị thôi miên trước công chúng, nhưng nếu chỉ có một mình họ, sẽ không thể động chạm đến họ được.

- Vậy thì tính chất của sức mạnh này là gì? Tôi không hiểu và cũng không đoán được! - Ăngtoan sôi nổi hỏi.

- Tôi cũng không hơn gì ông. - Anhôlô mỉm cười khó hiểu. Nhưng tôi xác nhận nó. Tôi tôn trọng uy lực của nó và không quá đi sâu vào nguồn gốc.

Cuối cùng Ăngtoan đã thốt ra một câu hỏi luôn ám ảnh anh:

- Có phải cái đó thuộc lĩnh vực tà thuật không?

Anhôlô lắc đầu phủ nhận. Một lúc sau, ông ta nói:

- Không phải, bác sĩ ạ. Tôi chắc chắn tuyệt đối rằng đây là một sự kiện tự nhiên hoàn toàn, dù cơ cấu của nó có như thế nào đi nữa.

Ông ta gõ vào một cái chiêng nhỏ:

- Được rồi! Chúng ta sẽ làm một thí nghiệm.

Cô gái đã dẫn Ăngtoan vào khi nãy đang từ một khung cửa ẩn sau rèm bước vào. Anhôlô gọi cô:

- Lại đây, Ania. Hãy ngồi gần chiếc bàn này.

Rồi quay về phía Ăngtoan:

- Bây giờ mời ông ngồi đối diện với cô ấy, bác sĩ.

Chỉ bằng một động tác, ông ta mở miếng vải phủ quả cầu thuỷ tinh ra, ngay lập tức quả cầu rực sáng khi ánh mặt trời bị giữ lại ở tâm nó.

- Xin hãy chú ý nghe tôi nói, bác sĩ Ăngtoan. Do một nguyên nhân nào đó hiện chưa giải thích được, tình trạng bị thôi miên dễ được gây ra khi đối tượng nhìn vào một chỗ sáng, hay ít ra là một điểm sáng cực mạnh.

- Nếu không có nguồn sáng ấy ở bên mình thì sao?

- Khi ấy bắt buộc đối tượng nhìn thật chăm chú vào mắt của người thầy. Nhưng điều đó đòi hỏi phải khéo léo, thành thạo hơn nhiều. Để ông làm thí nghiệm, chúng ta sẽ dùng quả cầu thuỷ tinh này, đây là thứ tôi đã dùng rất tốt từ lâu rồi. Bây giờ bác sĩ hãy nhìn vào mắt Ania, ông sẽ thấy mắt cô ta gắn chặt vào quả pha lê. Có thể nói rằng chính quả cầu ấy đã có sức mạnh từ tính.

Ania nhìn quả cầu sáng rực. Chính bản thân Ăngtôniô cũng đã chịu đựng sự huyền hoặc mạnh của nó khi anh ngồi đợi một mình trong phòng này nên anh dễ dàng thừa nhận rằng sức mạnh ấy có thể làm mê cả người chống đối lại.

Anhôlô hạ thấp giọng, ra lệnh:

- Bác sĩ hãy nhắc lại theo tôi những câu sau đây: Hãy đi đi, Ania. Hãy nghĩ đến ánh sáng. Chỉ đến ánh sáng thôi. Hãy nhìn nó và cảm thấy sức nóng của nó xuyên vào cơ thể cô.

Ăngtoan tuân theo và nhắc lại từng lời, cố bắt chước giọng rất trầm và âm vang của người đang dạy mình.

Anhôlô tiếp tục:

- Bây giờ ông bảo cô ta: hãy để cho tinh thần cô bay đi, chỉ có thể chất cô ở lại nơi này, sẵn sàng tuân theo ý muốn của cô.

Ăngtoan nhắc lại những lời ấy và chăm chú theo dõi cô gái. Anh thấy đầu cô cúi xuống, hai mi mắt nặng nề khép kín lại. Đầu cô vẫn tiếp tục cúi thấp cho đến khi gục vào vai, hình như cô gái đang ngủ này bỗng nhiên bị giấc ngủ xâm nhập trong khi đang ngồi rất thẳng trên ghế.

Anhôlô bảo anh:

- Ông nói với cô ấy đi. Hãy nói thong thả, rõ ràng ông sẽ thấy cô ấy nghe thấy và hiểu ông nói gì.

- Cô ngủ đấy ư, Ania?

- Thưa thầy không, - cô trả lời - Cơ thể tôi sẵn sàng tuân theo ý muốn của người.

- Xin có lời khen ông, nhà ảo thuật nói. Ông học nhanh lắm, bác sĩ ạ.

Hơi tự hào, nhưng Ăngtoan vẫn quay lại điều anh băn khoăn:

- Nhưng trạng thái cứng đờ thì sao?

Ăngtôniô làm như nhà ảo thuật đã chỉ dẫn và sau đó, khi anh muốn kéo cánh tay ấy xuống, anh thấy nó cứng như đá và cưỡng lại với lực của anh.

- Ông có thể làm như thế với toàn bộ cơ thể, - Anhôlô giải thích - Anh chỉ cần bảo cô ấy phải cứng đờ tuyệt đối. Hơn nữa, anh có thể làm cho cô ta mất hết cảm giác. Hãy bảo cô ấy rằng tay cô ấy không còn cảm giác đi.

Anh làm theo. Nhưng không vì thế mà anh không lo ngại khi thấy nhà ảo thuật rút ở chiếc khăn quấn trên đầu ra một chiếc kim dài và cắm thẳng vào da thịt chiếc cánh tay giơ lên. Ania không những không thốt ra một tiếng rên nào mà còn không có cả cái co giật bản năng không thể tránh được, cũng không thể giấu được, nếu cô cảm thấy hơi đau: cánh tay hình như mất hắn cảm giác.

Ăngtôniô kêu lên:

- Thật vô cùng kỳ diệu. Có thể dùng cách này rất tốt trong các phẫu thuật!

- Vậy thì tôi xin tặng ông cách đó để làm việc ấy, bác sĩ ạ. Bây giờ thì phải học cách kết thúc cơn mê. Ông hãy bảo cô ấy rằng cô ấy sẽ tỉnh dậy khi ông gọi tên cô ấy.

Khi nghe anh gọi "Ania" cô gái ngẩng đầu lên mở mắt và mỉm cười.

- Ông phải cho phép tôi trả tiền ông về những điều ông đã dạy tôi. - Ăngtoan nói.

Nhưng nhà ảo thuật lắc đầu:

- Ông không phải trả gì hết, bác sĩ ạ. Chúng ta hãy cho đó là một sự ưu đãi, nếu ông đồng ý. Một sự ưu đãi mà có lẽ một ngày nào đó tôi sẽ yêu cầu ông đền đáp cách khác, - ông ta nói thêm, vẻ bí mật.

Với sự hướng dẫn của Anhôlô, Ăngtoan tiến bộ rất nhanh và không bao lâu anh trở thành nhà thôi miên thành thạo. Người dạy anh tỏ ra lễ độ, lịch thiệp, ân cần, tuy vậy thỉnh thoảng anh vẫn có cảm giác - tuy không rõ rằng nhưng cứ lặp lại - rằng có một sự bí mật gì đó nấp sau bộ mặt đăm chiêu có chiếc mũi chim ưng và đôi mắt sâu hoắm đầy bí ẩn, rằng nhà pháp sư này vì lợi ích của chính hắn đang chơi một trò gì hắn không để lộ ra, làm cho người học hắn hành động theo sự điều khiển của hắn như người ta điều khiển con rối ở đầu sợi dây, và có lẽ hắn đang cười thầm vì một trò đùa ma quái nào đó mà chỉ hắn hiểu.

Trong thời kỳ học tập, Anhôlô cho phép anh tha hồ khai thác trong tủ sách về ảo thuật và đồng cốt của hắn. Cho nên Ăngtoan đã biết rằng làm ảo thuật phần lớn dựa vào các trò khéo tay và làm ra vẻ huyền bí, thí dụ như những ánh chớp bất thình lình làm bằng thuốc súng hay trộn lẫn bấc tẩm diêm sinh vào nến - như trong buổi Hành lễ đen để cho người xem tưởng như đang thấy cảnh ma quỷ hiện hình.

Qua đó anh cũng hiểu rằng một phần lớn sự thành công của nhà pháp sư tuỳ thuộc vào cách ông ta khơi động được đà suy nghĩ. Nếu tiến hành một cách thích hợp với người xem thì chỉ cần cổ vũ họ đúng lúc là trí tưởng tượng của họ sẽ tha hồ mà hoạt động.

Cơlarit Xtơrôdi, một trong những đối tượng tốt nhất của Anhôlô bị Tôniô thôi miên một cách dễ dàng, nhưng bằng chứng mới nhất về quyền lực của người thầy thuốc trẻ tuổi đã thể hiện rõ với Giăng Xavarinô vào hôm mà anh, theo tín hiệu của Ăngtoan đã giụi mắt ra khỏi cơn mê, ngơ ngác nhìn hết bạn đến Cơlarit rồi hỏi:

- Cái gì thế này? Tôi cảm thấy mình kỳ lạ quá...

- Anh vừa bị thôi miên đấy, - cô mỉm cười trả lời.

Giăng lẩm bẩm:

- Không phải do Ăngtoan chứ?

- Lại chính phải chứ, - Tôniô khẳng định - Cậu có muốn mình làm lại không?

Giăng vội vàng đứng lên:

- Ồ! Không đâu! Mình tin lời hai người ngay lập tức rồi! (Anh rót một cốc rượu vang lớn và uống một hơi). Nếu mình biết rằng cậu nói nghiêm túc về vấn đề này thì mình đã chặn cậu lại giữa chừng rồi, Tôniô ạ.

- Sao thế? Thôi miên có thể giúp ích được nhiều trong lĩnh vực chữa bệnh.

- Có thể như thế. Nhưng tôi không tin tưởng Anhôlô. Còn em thì thế nào Cơlarit?

Ánh mắt của người thiếu phụ bối rối, Ăngtôniô thấy thoáng qua vẻ biểu hiện mà anh đã thấy lần đầu khi gặp Anhôlô ở hiệu ăn bên bờ sông.

- Hắn bí hiểm và quỷ quyệt, - cô thong thả nói - nhưng hắn tôn trọng Ăngtôniô.

- Hắn chưa bao giờ làm cậu mê chứ? - Giăng lo lắng hỏi.

- Không, nhưng nếu như thế thì có làm sao?

- Mình biết đâu đấy! - Xavarinô bực tức trả lời - Có lẽ hắn muốn chiếm một lợi thế nào đó đối với cậu đấy.

- Hắn và mình chỉ nói chuyện thôi miên và y học với nhau.

Bỗng nhận rõ bạn anh đang có điều gì băn khoăn anh hỏi:

- Cậu có gì lo lắng thế Giăng?

- Mình có thể lầm, cậu ạ, nhưng mình gần như chắc chắn trong thấy Anhôlô đi với Poocdia. Một quan hệ rất xấu.

- Poocdia ư? Cậu có chắc như thế không? - Ăngtoan lo lắng hỏi.

- Cậu hãy tả hình dáng hắn xem sao...

Và sau khi Ăngtoan kể, anh nói:

- Đúng như thế. Mình nói đúng. Poocdia đấy.

- Nhưng họ gặp nhau làm gì nhỉ? - Ăngtoan hỏi.

- Ai biết được? - Giăng nhún vai nói. - Chỉ một trong hai thằng cha ấy cũng thừa đủ khả năng chơi trò đểu cáng, đằng này lại cả hai đứa. Có thể là Xăngtốt muốn kiếm thêm những chứng cớ khác về cậu.

Lúc này Ăngtoan cảm thấy thực sự lo lắng vì anh không còn nghi ngờ gì về tính xảo trá, độc địa của tu viện trường: lần gặp gỡ gần đây nhất đã làm anh thấy rõ điểm này.

- Chúng ta sẽ phải làm gì đây? - Anh hỏi.

- Không, không làm gì hết. Chỉ có đợi và nhìn sự việc sẽ đến.

Họ đã không phải đợi lâu. Một buổi chiều, Cơlarit xuất hiện ở xưởng vẽ của Giăng, mặt tái xanh:

- Anhôlô bảo em đến báo tin cho Tôniô. Xăngtốt biết anh ấy đã cứu em đêm biểu diễn, biết cả vấn đề anh ấy đi vào nghiên cứu và thí nghiệm thuật thôi miên.

- Quỷ quái thật! - Giăng thốt lên, - Tại sao hắn lại biết tất cả những điều ấy?

- Em không rõ. Hình như Poocdia đã đi hỏi khắp Vơnidơ.

- Họ không thể buộc tội tôi điều gì được! - Ăngtoan phản đối. - Tôi chỉ làm việc là đi vào những thực nghiệm khoa học.

- Họ sẽ buộc tội là làm tà thuật, - Cơlarit nói rõ và lo âu. - Và tội đã kêu cầu ma quỷ.

- Trời ơi! Dù ở ngay Vơnidơ cậu cũng khó lòng chống đỡ nổi cho bản thân với những lời buộc tội như vậy! Luật pháp rất chặt chẽ - Giăng tái mặt nói.

- Nhưng mình vô tội!

Xavarinô nhún vai:

- Điều đó chưa bao giờ có ý nghĩa trước mắt Toà án tôn giáo. Vả lại, đừng quên Cơlarit: nếu họ hỏi cô ta...

Ăngtoan bỗng cảm thấy nôn nao:

- Cậu muốn nói họ sẽ tra khảo cô ấy?

- Đó là điều thứ nhất, điều trước tiên Xăngtốt sẽ nghĩ đến. Nếu họ có thể làm cho Cơlarit thú nhận rằng cô ấy là người mà họ gọi là phù thuỷ, họ cũng sẽ bắt cậu vì như thế, Tôniô ạ.

- Tại sao họ có thể suy nghĩ và hành động như thế nhỉ? - Ăngtoan ủ rũ hỏi.

- Toà án tôn giáo là toà án tôn giáo.

Cả ba người cúi đầu. Những từ ấy đã nói lên tất cả. Vì tiếng tăm của tổ chức ghê gớm này đã được cả nước Ý biết.

Ăngtoan nói:

- Trong trường hợp này mình chỉ còn có một phương sách: thật nhanh chóng rời khỏi Vơnidơ. Sự căm ghét của Xăngtốt chỉ có mình là đối tượng. Hắn sẽ không làm phiền phức Cơlarit khi mình đã đi khỏi.

Cô gái phản đối:

- Còn công việc của anh ở Pađu. Anh bỏ nó sao?

- Nếu tôi bị giam giữ, tôi sẽ không bao giờ có công việc gì và bất cứ dâu, - Ăngtoan cay đắng nói. - Tuy vậy tôi không hề ưa ý nghĩ trốn chạy. Đó là điều hèn nhát.

- Không phải là hèn nhát khi muốn sống và tìm cách duy nhất để sống được, - đến lượt Giăng nói. - Vả lại nếu cậu bị bắt và bị buộc tội, họ sẽ đốt cuốn Điều trần của cậu đến bản cuối cùng. Đó chiính là một trong những điều Xăngtốt quan tâm nhất. - Anh đăm chiêu xoa cằm. - Không còn nghi ngờ gì nữa. Phải trốn. Nhưng làm như thế nào đây?

- Cần hành động thật nhanh, - Cơlarit nói. - Anhôlô nói chỉ sáng mai là Xăngtốt đề nghị chính quyền cấp lệnh bắt anh.

- Chúng mình không được chậm trễ nữa, - Giăng nói mặt anh rạng rỡ lên khi nói câu tiếp theo:

- Đây nhé. Mình đã có cách. Sáng mai cha tôi cho một đoàn chở hàng đi về phương Nam, phía La Mã. Sẽ không ai đi tìm cậu ở một trong những đoàn hàng của hãng Xavarinô.

Ăngtoan cương quyết phản đối:

- Cậu đừng dính líu vào đấy, Giăng ạ. Cậu không phải chịu hậu quả của chuyện này!

- Chính mình đã kéo cậu vào trong đó! - Giăng nói, anh mỉm cười tinh quái và đắc chí nói thêm - Vả lại, đã từ lâu rồi mình cũng muốn có đôi chút thay đổi hoạt động. Chúng mình sẽ nhập đoàn sáng mai và trước khi mọi người biết cậu đã rời Vơnidơ thì chúng ta đã vượt qua biên giới quốc gia.

Một ý nghĩ bỗng nảy ra trong tâm trí Ăngtoan:

- Đoàn có đi qua Phlôrăngxơ không?

- Qua Phlôrăngxơ à? - Giăng giương to mắt nhìn bạn. - Cậu không có ý định...

- Cậu muốn nói đến bức tranh phải không? Có chứ! Mình phải đem nó cho ông Belacmi ở Phlôrăngxơ.

- Đó không phải là điều sáng suốt! Bức tranh hiện ở tu viện. Trừ khi cậu muốn chui đầu vào tròng...

- Cậu ạ, nhiệm vụ của mình là phải mang bức tranh đến cho ông Belacmi. - Ăngtoan tuyên bố bằng một giọng không bàn cãi lại nữa.

Giăng thất vọng giơ hai tay lên:

- Trong tất cả những đứa ngu ngốc, không đứa nào bướng bỉnh như cậu, Tôniô ạ! Đã bao giờ em nghe thấy những điều như thế chưa, Cơlarit?

Cô gái tư lự nói:

- Có lẽ em hiểu được lý do của anh ấy.

Giăng lắc đầu chán nản:

- Rõ ràng là các cậu luôn vào phe với nhau để chống lại mình, cả hai người. Thôi được. Tốt lắm. Vậy thì tôi đi thu xếp để cứu vãn lấy tấm thân quý báu của cậu đây, Tôniô ạ. Còn cậu, hãy cố moi óc tìm lấy một biện pháp để đừng để mất tấm thân quý báu ấy khi đi lấy lại bức tranh ở tu viện. Cậu chơi một trò nguy hiểm đấy, cậu bạn ạ.

Khi Giăng đi rồi. Cơlarit nép vào người Ăngtoan sôi nổi nói:

- Anh có nhiệm vụ đối với bản thân và đối với mọi người là không để bị bắt, Tôniô ạ.

Anh lắc đầu:

- Em yêu mến, anh vẫn ghét việc chạy trốn này. Như vậy là thừa nhận mình có tội, phải không?

- Không, nếu người ta bị buộc tội không đúng, anh bạn ạ. Hơn nữa, anh còn phải hoàn thành nhiệm vụ. Có phải vì thế mà anh muốn đem bức tranh đi Phlôrăngxơ không nào?

- Đúng. Nhưng điều đó có gì quan trọng chứ?

- Em chắc chắn rằng có một đấng Thượng đế đặc biệt nào đó để che chở cho người mà mọi người cần đến, - Cơlarit tin tưởng nói. - Và việc anh làm chắc nằm trong dự định của Người.

- Cũng có thể như thế. Anh muốn hiểu biết được nhiều hơn về vấn đề ấy. - Anh cầm tay cô - Điều gian khổ nhất là phải xa em, em của anh. Anh đã rõ rằng anh rất yêu em.

- Còn em... anh... có lẽ, - cô nói, hai mắt đầy nước mắt nhưng không để rơi ra. - Thượng đế cũng đã định trước rằng chúng ta sẽ gặp lại nhau. - Cô kiễng chân lên hôn vào môi anh rồi khẽ nói: - Tạm biệt anh yêu của em!

Rồi cô đi luôn.

- Chúa sẽ định đoạt mọi sự! - Ăngtoan thở dài.

Anh bỗng cảm thấy quá cô đơn. Rất hoảng sợ, mệt mỏi. Bỗng nhiên cả thế giới hình như chống lại anh.

Bóng hoàng hôn của chiều hè đã bao phủ vùng ranh giới Pađu, nhưng Giăng và Ăngtoan, chiếc xe gọn nhẹ của họ giấu sau một bờ rào, đang đợi cho đêm xuống hẳn.

Giăng đã không để mất một phút nào và đoàn chở hàng của hãng Xavarinô trên đường đi La Mã sẽ đợi họ ở biên giới của Cộng hòa Vơnidơ. Giăng xin được quyền điều khiển đoàn, cha anh ngạc nhiên vô cùng vì con trai bỗng nhiên lại tỏ ra quan tâm đến công việc. Sau khi đã suy nghĩ, hai người bạn này quyết định rằng đối với Ăngtoan phương pháp tốt nhất để thoát khỏi cảnh sát đang truy tìm một kẻ theo tà giáo đang chạy trốn là khoác áo tu sĩ.

Từ chiều hôm trước Ăngtoan đã ở trong trạng thái đành chịu đựng, trong lúc này anh rất bình tĩnh, chỉ đợi trời tối hẳn để hoàn thành nhiệm vụ anh tự xác định cho mình. Nếu mọi việc hoàn thành như anh hy vọng, hai người có thể gặp đoàn vào lúc nửa đêm.

Giăng thì vô cùng bồn chồn, anh nói:

- Cậu nhắc lại nữa đi. Không nên để bị bất ngờ với bất cứ cái gì. Hành động hơi lầm lẫn một chút là hỏng tất cả.

Ăngtoan kiên nhẫn nhắc lại:

- Cậu và chiếc xe sẽ ở trong dãy phố chạy dọc theo phía sau tu viện trong khi mình vào trong để lấy lại bức tranh. Ở vườn có một chiếc cửa mở ra phố gần chỗ cậu đợi. Chuông sẽ điểm giờ cầu nguyện buổi tối và tất cả tu sĩ sẽ ở giáo đường. Cậu thấy đấy, sẽ không có điều gì xấu xảy ra đâu...

Giăng cau mặt:

- Đơn giản quá! Giá mình cùng đi với cậu được nhỉ...

- Chúng mình đã xem xét kĩ vấn đề ấy rồi. Đi hai người dễ bị chú ý trong khi một người có thể lọt qua dễ dàng. Hơn nữa, mình nói cậu đừng giận, cậu không thể giả làm tu sĩ giống như thực được, ông bạn ạ.

Chuông trên tháp nhà thờ Thánh Mác điểm giờ đầu tiên sau khi mặt trời lặn. Giăng cầm cương, tắc lưỡi giục ngựa, đã đến thời gian bắt đầu hành sự, anh thở dài:

- Đành vậy!

Con đường trước tu viện vắng tanh, một ngọn đèn thấp gần cửa chiếu sáng vừa đủ lối vào. Angtôniô nhảy xuống xe và nép vào bóng tối dọc tường đợi cho Giăng và xe đi khuất sang phía bên kia toà nhà. Rồi anh tiến ra chỗ sáng thấy cánh cửa chỉ gài móc như anh dự đoán và anh đi vào, chỉ có chiếc mũ trùm kéo sụp xuống mặt che chở cho mình.

Trước mặt anh, dãy hành lang quen thuộc, chạy dài với lối đi lát đá lõm ở giữa do biết bao bước chân tu hành đã bước qua. Ăngtoan cố đi thong thả, tự nhiên, trong nơi thanh tịnh này, nếu hấp tấp sẽ lộ vẻ bất thường ngay.

Thật ma quỷ! Có bước chân trong hành lang! Tôniô hoảng sợ, anh đưa mắt tìm chỗ trốn và nguyền rủa sự rủi ro đã làm cho một tu sĩ hay một người giúp việc nào đó của tu viện đến cầu kinh chậm tối hôm nay. Bước chân tiến lại gần, nguời ấy sắp sửa rẽ ở góc ngoặt và đến trước mặt Ăngtoan. Bỗng nảy ra một ý, Ăngtoan quay về hướng giáo đường tiếp tục đi, người còng xuống, chân lê bước, cố sức khập khiễng và cầu Chúa cho người đang đến tưởng anh là một tu sĩ già bị tê thấp. Anh cúi đầu đi sát vào tường dành một khoảng trống cho người kia đi. Mắt vẫn nhìn xuống, anh trông thấy đôi dép bằng loại da Coocdu tốt và gấu chiếc áo trắng sang trọng thoáng qua tầm mắt, anh giật mình: trong tu viện này, không ai mang giày và áo như thế, trừ bản thân tu viện trưởng - cha Phêlíp Xăngtôt.

- Đừng vội vàng, thầy ạ, một giọng nói trang trọng cất lên bên cạnh anh. Cứ thong thả, tối hôm nay sẽ cầu nguyện chậm hơn thường lệ.

Mấy giây sau, chiếc áo trắng biến vào trong đường hành lang dẫn đến giáo đường. Ăngtôniô dựa lưng vào tường, áp hai bàn tay run rẩy sát vách đá, bỗng nhiên anh thấy mệt rã rời, thế là nguy hiểm đã qua. Anh khó lòng tin được có sự may mắn có một không hai ấy, khi nghĩ rằng điều may mắn ấy không thể kéo dài cũng không thể lặp lại, anh phải đấu tranh mất một lúc với nỗi sợ hãi đang thôi thúc anh từ bỏ nhiệm vụ rất nguy hiểm kia, một khi tai biến đã qua. Cuối cùng, anh tự chủ được, đứng thẳng lên và nghĩ rằng mình chỉ còn độ hai mươi phút, trong thời gian ấy rất có thể có sự bất ngờ, cần phải kết thúc việc này trước khi buổi lễ cầu nguyện tối kết thúc.

Rất may là trong buổi gặp mặt lần cuối, cha Phêlíp đã lộ ra với anh là bức tranh để ở chỗ ở riêng của ông ta. Ăngtoan bước qua bậc cửa vào ngay chỗ ấy.

Bức tranh không để trong phòng tiếp kiến nhưng ở phòng ngủ liền ngay đấy. Tim anh đập mạnh khi thấy lại nó. Thần vệ nữ vẫn đang mỉm cười trong khung hình như sắp bước xuống thuyền đến với anh, anh có thể thề rằng nàng đang nhìn anh với cái nhìn chào đón dịu dàng.

Nhưng không đủ thời gian để ngắm nhìn vẻ đẹp trinh khiết ấy, phải nhanh chóng tháo bức tranh ra khỏi khung. Tôniô đặt nó xuống giường để gấp và buộc lại bằng dây mang theo sẵn, anh thở dài khoan khoái. Anh vừa nâng chiếc gói nặng lên vai thì có tiếng nói:

- Ra thế đấy, lúc nãy đúng là anh phải không?

Ăngtoan giật mình đáng rơi chiếc bọc lên giường và quay mặt ra cửa. Cha Phêlíp đang đứng bất động ở đấy.

- T... tại sao cha biết tôi ở đây? - Ăngtoan ấp úng nói.

- Đơn giản thôi. Tôi nghĩ rằng những tu sĩ bị bệnh thấp khớp ở đây ít người có hai vai rộng như thế, - tu viện trưởng nói và nhếch mép cười. - Ý nghĩ ấy đến với tôi trong khi đang cầu nguyện và tôi rời ngay giáo đường. Tại sao anh muốn lấy bức Bôtixeli của tôi?

Cách dùng bậy từ chỉ sở hữu ấy làm Tôniô phát cáu:

- Của ông ư? Ông rất biết rằng bức tranh này của ông Belacmi, ở Phlôrăngxơ.

- Vậy ra anh cũng biết à? Anh quỷ quyệt hơn tôi tưởng đấy, ngài bác sĩ ạ. Tôi đã đúng một nghìn lần khi thu xếp để ngăn cản anh làm trở ngại các dự định của tôi.

- Bằng cách bắt tôi sau khi buộc tội bậy chứ gì?

Một tia sáng quỷ quái đến lạnh lùng ánh lên trong mắt của cha Phêlíp:

- Tôi báo trước với anh rồi, - ông ta rít qua kẽ răng, - anh đã không tuân theo ý tôi. Bây giờ thì anh sẽ đền tội ấy trên giàn thiêu.

Ông ta đột ngột quay lại cái bàn có chiếc chuông nhỏ dùng để gọi người giúp việc. Angtôniô phản ứng cũng nhanh như thế vì anh biết cuộc sống của anh tuỳ thuộc vào cử chỉ này.

Anh đưa vai hất mạnh vào thân hình mảnh khảnh của người giáo sĩ đúng vào lúc tay ông ta sắp chạm vào tín hiệu. Sức va mạnh làm cho tu viện trưởng quay ngược lại và loạng choạng, ông ta bám vào bàn cho khỏi ngã.

Mặt không còn một hạt máu, ông ta quát:

- Anh dám xâm phạm vào người ta ư! Quân tà giáo và thật điên rồ kia!

Ăngtoan trông thấy bàn tay phía sau ông ta lần mò trên bàn. Ngay giây phút ấy, con dao nhọn sắc bén để rọc thư đã sáng loáng trong tay ông ta. Vậy mà Ăngtoan đã đến đây không vũ khí dù Giăng đã khuyên anh cẩn thận.

Cái nhìn giá lạnh của tu viện trưởng bừng lên ánh giết chóc điên cuồng. Ông ta giơ dao tiến đến gần Ăngtoan. Anh lùi dần, thất vọng đưa mắt tìm một thứ khí giới nào đó có thể dùng để chống đỡ. Anh đã nhìn thấy án tử hình của mình trên bộ mặt hằn học của giáo sĩ Phêlíp. Từ lúc này trở đi, không có gì làm cho hắn vừa lòng ngoài cái chết của người thanh niên này, cái chết do bàn tay của chính hắn. Trượt chân khi đang lùi sát tường, Ăngtoan va đầu phải cây đèn nến bằng bạc gắn trên một gờ tường. Phương tiện tự vệ đối với dao găm như vậy thật là tồi nhưng anh không được lựa chọn. Xoay nhanh người, anh nắm lấy gờ tường ra sức kéo. Tiếng đổ vỡ ầm ầm nhưng cây đèn nặng nề đã ở trong tay anh.

Trong khi nhổ cây đèn ra khỏi tường, Ăngtoan đã giơ người ra cho địch thủ tấn công và giáo sĩ Phêlíp đã chồm lên anh. Gắng sức một cách tuyệt vọng, anh cố tránh dao nhưng không tránh được; anh cảm thấy lưỡi dao rạch áo anh và thấy đau nhói gần như không chịu đựng được khi lưỡi dao cắt vào da và bắp thịt rồi chạm vào một xương sườn.

Chính cái xương sườn đã cứu anh: chỉ chệch về bên phải hay bên trái vài phân là Ăngtoan Xecvê đã chết. Gầm lên một tiếng điên dại, tu viện trưởng rút dao ra, và dao lại rạch vào áo, da, bắp thịt anh cho đến tận dưới thắt lưng.

Nhưng cử động của Ăngtoan cũng đã làm cho kẻ đang đâm mình mất thăng bằng. Nghiến răng lại quên cái đau ghê gớm, Ăngtoan giơ cây đèn nến lên như người hiệp sĩ giơ chiếc gậy, và, một lần, hai lần, ba lần, anh nện nó vào sọ tu viện trưởng. Cái thân hình mảnh khảnh bỗng mềm nhũn ngã xuống sàn nhà và bất tỉnh, bàn tay buông rời con dao nhọn.

Thở hổn hển, người choáng váng, đẫm máu, run lẩy bẩy vì mệt, đau và thiếu sức, Ăngtoan dựa vào tường để cho phổi dễ dàng tiếp nhận không khí. Những làn máu ấm chảy xuống cạnh sườn và cảm giác đuối sức càng rõ rệt một cách nguy hiểm làm cho anh biết mình đã mất máu khá nhiều. Anh xé một mảnh áo và với sự nhanh nhẹn, dũng cảm của người lâm vào cảnh tuyệt vọng, anh buộc chặt mảnh vải quanh ngực: bằng bất cứ giá nào anh phải dùng sức ép cầm lại cho được luồng máu đang đưa cuộc sống của anh chảy ra theo. Anh xé thêm một mảnh vải nữa buộc thật chặt ra ngoài miếng vải trước. Nhưng tình hình vẫn bi đát vì cứ rách rưới như thế này hoặc mặc quần áo lót thì anh cũng không thể trốn được.

Giáo sĩ Phêlíp nằm sóng soài dưới chân anh, anh cúi xuống tìm mạch ông ta và khó khăn lắm mới nhận ra được tiếng đập yếu ớt và thanh thoát nghĩ rằng mình không phải là kẻ giết người nhưng nếu tu viện trưởng không sống nổi sau những cú đánh như thế thì rất là may mắn. Anh cố mãi mới cởi được chiếc áo trắng của giáo sĩ Phêlíp và chui vào được chiếc áo ấy không phải không vất vả, bề ngang vai của hai người không giống nhau, anh bỏ mặc tu viện trưởng với số phận của ông ta.

Mặc chiếc áo trắng của một tu sĩ cao cấp dòng Đôminich, vai mang bức tranh, kiệt sức, nhưng ý muốn và hy vọng đã giúp anh đến được cửa vườn vào lúc ở phía đằng kia, trong giáo đường vang lên lời ca mừng sau lễ cầu kinh buổi tối: anh ra khỏi tu viện không sớm hơn một phút!

- Trời ơi! - Giăng sợ hãi thì thầm trong bóng tối khi trông thấy bóng áo trắng xuất hiện ở ngoài phố ở vị trí của Tôniô. Họ định bẫy anh chăng? Hay Tôniô đã bị cản trở?

Người mặc áo trắng loạng choạng buông rơi chiếc bọc nặng đang mang và yếu ớt gọi:

- Giăng! Giăng!

Nhanh như chớp, nghệ sĩ đã từ bóng tối vọt ra và đỡ lấy bạn:

- Tôniô của tôi! Cậu bị thương ư?

Anh thở hổn hển:

- Bị thương vào thịt thôi... Mang bức tranh vào xe đi... đừng để mất thời giờ dù chỉ là một giây.

Ăngtoan tiều tuỵ quá, nói khó khăn, bước cũng khó khăn. Không cần phải thôi thúc Giăng cũng vội vã.

Trong khi chiếc xe nhỏ chạy qua các phố nhỏ hẻo lánh tiến ra đường chính về phía nam thành phố, Ăngtoan vắn tắt kể lại cuộc mạo hiểm của anh; Giăng lẩm bẩm:

- Mình rất mong cậu đã giết chết hắn! Sẽ tha hồ mà ầm ĩ lên!

Vào lúc rạng sáng họ gặp đoàn Xavarinô đang đợi họ ở bên kia biên giới của Công hòa Vơnidơ. Sắp bình minh rồi và không bao lâu nữa mặt trời sẽ mọc từ sau các ngọn đồi, nhưng họ phải xa Pađu càng nhiều càng tốt trước khi có báo động hoặc tiến hành truy tìm. Họ không thể dừng lại mà cũng không hãm bớt tốc độ được.

Ăngtoan cảm thấy nhức đầu, chóng mặt; ngực và mạng sườn nhói lên những cơn đau nhức dữ dội, kiến thức về y học báo rằng đó là những dấu hiệu trầm trọng của vết thương bị biến chứng. Anh dựa tạm vào các nệm xe và ngồi co người lại cho viết thương đỡ đau nhưng mỗi khi xe xóc là một cực hình đối với anh và anh gần như ngất đi không phải chỉ một lần. Cần phải băng ngay vết thương khi hoàn cảnh cho phép. Nếu anh ngất hay mê đi, anh sẽ không thể hướng dẫn cho Giăng cách làm nên cần phải nói ngay khi anh còn có thể...

Xe dừng lại một lát để cho ngựa uống nước.

- Giăng, - Angtôniô khẽ nói, - cậu phải đốt vết thương.

Nghệ sĩ tái mặt phản đối:

- Mình không thể làm được. Tôniô ơi! Mình không thể làm được. Mình không phải là thầy thuốc.

- Giăng của mình ơi, cần phải làm như thế nếu cậu muốn mình sống vì mình không thể tự làm lấy được. Hãy chú ý nghe mình nói, mình sẽ không còn sức để nhắc lại đâu.

Anh nghiến răng, người co giật vì đau đớn, rồi tiếp tục:

- Nấu sôi dầu ăn... hay nhựa thông, nếu cậu có thể kiếm được... đổ vào vết thương... Rồi băng lại...

Mồ hôi lấm tấm trên trán Giăng. Tuy nhiên, anh hứa:

- Rõ rồi. Mình sẽ làm như thế.

- Nếu mình bất tỉnh, hãy đắp băng nóng. Không rượu nho... không thịt.... Trích máu ở cánh tay trái... đừng quên, bên trái!...

Tiếng anh nói yêu dần. Rồi anh nhắm mắt.

Một giờ sau, anh lại nói, nói không ngừng. Giọng anh lúng túng, nặng nề vì anh mê sảng.

Continue Reading

You'll Also Like

8.9K 75 3
Truyện do tác giả tưởng tượng, viết để sục, có yếu tố DIRTY OLD MAN và AUDAM. Không thích vui lòng bỏ qua. Enjoy~ Thể loại: song tính, thô tục, np...
16.6K 744 25
⚠️: Không bế truyện đi đâu/né mặt chính quyền,có yếu tố allHoang,đủ thể loại tạp nham.. -Món chính:HuyHoang🎀 -Món phụ:AllHoang⁉️ Ye món phụ nhiều hơ...
2.1K 395 9
textfic xen văn xuôi, lowercase cậu thề là cậu ghét nắng kinh khủng nhưng từ khi bạn đến, nắng chẳng còn nóng bức, chỉ còn những tia ấm áp bao quanh...
6K 1K 22
Nhân vật chính: Sawada Tsunayoshi Warning: OOC, có yếu tố giết người, sẽ khai thác về mặt tối của thế giới ngầm mà KHR tránh đề cập đến. ...
Wattpad App - Unlock exclusive features