Bài 1

234 1 0
                                        


Tiếng nói nhân đạo mới mẻ và sâu sắc qua đoạn trích Trao duyên (Truyện Kiều – Nguyễn Du), và đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn, bản dịch diễn Nôm Đoàn Thị Điểm).

BÀI LÀM THAM KHẢO (sưu tầm)

Nếu bản nhạc hay là bản nhạc được dệt nên bằng cảm xúc, nếu bức tranh đẹp là bức họa được vẽ bằng tâm hồn thì một bài thơ hay phải là những vần thơ được kết tinh cao độ từ một trái tim nồng nàn hơi thở nhân đạo. Như nguồn nhựa sống dồi dào, mạch nguồn nhân đạo, lòng yêu thương là cơ sở để đóa hoa thơ nở rộ dưới ánh mặt trời và dễ dàng chạm khẽ trái tim người trong thiên hạ. Và nếu hoa có trăm hương thì tình yêu thương cũng có trăm đường để thể hiện. Đó chính là tiếng nói sâu thẳm nhất không trộn lẫn của Nguyễn Du và Đoàn Thị Điểm.

Từ cổ chí km, vạn vật luôn vận động theo những quy luật riêng của nó. Tất cả các hành tinh trong hệ mặt trời đều phải quay xung quanh nó. Mọi vận động trên trời đất đều xoay quanh chất và lượng. Trung tâm của văn học cũng trên cơ sở đó, mọi vấn đề phản ánh đều tập trung xoay quanh con người. Con người là đối tượng trung tâm của văn học. Văn học chỉ thực sự có giá trị khi “nó vì cuộc đời mà có”. Do đó, mọi mặt trong đời sống của cuộc sống xã hội loài người chính là mảnh đất dồi dào, phong phú và tràn ngập điều mới mẻ, kích thích trái tim của những kẻ “nặng nợ với đời” hay “nâng giấc mơ cho người khác” (Nguyễn Minh Châu). Đó là những cá nhân luôn “mở hồn ra đón lấy những vang động của cuộc sống” (Nam Cao), nên tâm hồn của họ luôn dễ xao động, dễ rung cảm trước mọi chuyển biến của vạn vật, của con người dù là nhỏ nhất. “Con hãy lắng nghe nỗi buồn của cành cây khô héo, của chim muông què quặt, của hành tinh lạnh ngắt, nhưng trước hết con hay lắng nghe nỗi buồn của con người” (Na-dim Hít-mét). Do đó, “từ bao giờ đến bây giờ, từ Hômerơ đến Kinh thi tới ca dao Việt Nam” (Hoài Thanh) con người vẫn luôn là chủ thể của văn học. Bao yêu ghét hờn giận, bao hạnh phúc khổ đau, bao thành công thất bại của con người luôn là niềm trăn trở, day dứt khôn nguôi đối với tâm hồn nghệ sĩ.

Có thể nói tình yêu thương con người là động lực thôi thúc trái tim nghệ sĩ rung động để rồi tiếng lòng thiết tha của tác giả theo ngòi bút tràn ra trang giấy. Có lẽ vì vậy mà Sê-khốp đã quả quyết: “Một nhà văn chân chính phải là nhà nhân đạo từ trong cốt tủy”, và một văn sĩ nổi tiếng khác lại phát biểu một cách hàm súc và đầy ấn tượng: “Nhà văn là người cho máu”, tình yêu như một viên ngọc sáng lung linh nhưng nó trở thành “viên kim cương lóng lánh dưới ánh mặt trời”, bởi nó đã được mài giũa từ chính sự hi sinh trong cuộc đời nhà văn. Người nghệ sĩ muôn đời đều cất lên tấm lòng thấm đẫm tình thương, niềm trân trọng ngợi ca con người mỗi khi hồn mình rung lên những tiếng tơ lòng như một nhà văn Xô Viết từng tâm sự: “Khi tôi viết nghĩa là tôi thấy đau ở đâu đó”. Nhà văn sáng tạo nên tác phẩm không thể không gửi vào đó cái nhìn đầy tình yêu thương nhưng lại rất đỗi mới mẻ và độc đáo. Tóm lại, văn học phản ánh cuộc sống một cách đa chiều, có những cái nhìn sâu sắc về cuộc sống thông qua lăng kính chủ quan của tác giả và tấm lòng nhân đạo của một “người vẫn còn mang vết thương đã lại đi chữa vết thương cho người khác” (Sỏi đá buồn tênh – Nguyễn Ngọc Tư).

Bài văn tham khảoStories to obsess over. Discover now