Ta là công chúa Mị Châu, con gái vua An Dương Vương nước Âu Lạc. Ta cũng như bao người khác, luôn mong cuộc đời mình là những tháng ngày bình yên, hạnh phúc. Nhưng nào ai ngờ được đâu, một sự vô ý tưởng chừng nhỏ, tưởng chừng như là vô tội đã đẩy ta đến bước đường cùng này, nhấn chìm cơ đồ Âu Lạc dưới biển sâu.
Cha ta họ Thục tên Phán, người trước kia là thủ lĩnh bộ tộc Âu Việt, sau thống nhất hai bộ tộc là Âu Việt và Lạc Việt, lập ra nhà nước Âu Lạc.
Thiên hạ thái bình nhưng lòng người còn nhiều nỗi băn khoăn, kinh đô cũ nằm ở thế núi hiểm trở, tuy thuận lợi cho việc chống giặc ngoại xâm nhưng lại chính là khó khăn trong việc giao thương, làm ăn sinh sống của nhân dân. Nên, việc dời đô ắt là tất yếu. Vậy mới thấy tấm lòng vì dân vì nước của cha ta lớn đến nhường nào. Với con mắt nhìn xa trông rộng, khắp nước Âu Lạc này theo người chỉ có nơi đó là thích hợp nhất, thực là chỗ hội tụ quan yếu bốn phương.
Việc dời đô từ Lâm Thao về Cổ Loa hoàn tất. Người không chậm trễ liền tiến hành việc xây thành giữ nước. Nhưng kỳ lạ thay, thành xây mãi mà chẳng xong, hễ đắp tới đâu lại lở tới đấy. Thấy cha ngày đêm trăn trở, ăn không ngon ngủ không yên phận làm con như ta trong lòng cũng không khỏi đau xót. Nếu có san sẻ giúp người gánh nặng xã tắc này, ta sẽ không từ bất cứ việc gì, đó cũng là báo hiếu với cha, tận trung với nước. Người bèn lập đàn trai giới, giữ cho tâm mình thanh tịnh, cầu đảo bách thần mong trời chỉ cho một con đường mà xây thành giữ nước. Ngày mồng bảy tháng ba, có một cụ già từ phương đông tới mà mách rằng sẽ có sứ Thanh Giang đến giúp cha ta, chỉ thế mới có thể thành công. Quả nhiên ngày hôm sau, có một con rùa vàng từ Phương Đông lại, nổi trên mặt nước, nói sõi tiếng người, tự xưng sứ Thanh Giang, ta vô cùng kinh ngạc còn về phần cha, người vui mừng khôn xiết.
Thành xây nửa tháng thì xong, xoắn như hình trôn ốc, phải rộng đến hơn ngàn trượng, tên là Loa Thành, còn nhân dân gọi là Quỷ Long Thành.
Sứ Thanh Giang lưu lại ba năm, vừa giúp xây thành lại giúp cha ta việc nước. Ngày ngài từ biệt ra về, cha vô cùng cảm kích, nhưng vẫn còn nỗi băn khoăn, nay thành xây được nhưng nếu có ngoại xâm thì phải chống làm sao. Rùa Vàng bèn tháo vuốt mà trao cho người, dặn dò rằng lấy vuốt này làm lẫy nỏ, nhằm quân giặc mà bắn thì sẽ chẳng lo gì nữa. Nói rồi, ngài trở về biển Đông.
Cha sai tướng Cao Lỗ chế nỏ, gọi là nỏ "Linh quang Kim Quy thần cơ". Bấy giờ phương Bắc có Triệu Vương, ngày đêm đều lăm le xâm lược Âu Lạc nhưng nhờ có nỏ thần bắn một phát ngàn mũi tên, quân giặc thua lớn.
Sau, Triệu Vương xin hòa, lại nói ngài cầu hôn, vua cha vui mừng vì từ này hai nước có thể xóa đi mối bất hòa, muôn dân được ăn cư lạc nghiệp liền đồng ý - gả ta cho Trọng Thủy là con trai Triệu Vương. Dù biết đây là một cuộc hôn nhân chính trị, khó có được hạnh phúc nhưng vì đất nước này, huống hồ có thể giúp cha gánh vác trọng trách nặng nề trên vai thì ta có tiếc chi.
Cha chấp nhận cho chàng ở rể. Vợ chồng ta chung sống hòa thuận, hơn nữa Trọng Thủy rất thương yêu ta, lòng ta còn gì để vui mừng hơn như thế nữa. Và rồi ta nhận ra, trái tim ta tự lúc nào đã yêu chàng.
