Previous Page of 4Next Page

3.Phân tích những nội dung của tư tưởng HCM về vấn đề dân tộc

spinner.gif

Câu 3

Dân tộc là một vấn đề rộng lớn, bao gồm những quan hệ về chính trị, kinh tế, lãnh thổ, pháp lý, tư tưởng và văn hoá giữa các dân tộc, các nhóm dân tộc và bộ tộc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc không phải là vấn đề dân tộc nói chung mà vấn đề dân tộc thuộc địa.

 Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa là vấn đề đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa nhằm thủ tiêu sự thống trị của nước ngoài, giành độc lập dân tộc, xoá bỏ ách thống trị, áp bức bóc lột thực dân, thành lập nhà nước độc lập.

 Vấn đề dân tộc thuộc địa trong tư tưởng Hồ Chí Minh là giải quyết vấn đề dân tộc thuộc địa trong thời đại cách mạng vô sản, có sự vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận Mác-Lênin cho phù hợp với thực tiễn ở các nước thuộc địa, nhất là ở Việt Nam .

 Nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc

      a. Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm cho tất cả các dân tộc

 Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước với một khát vọng cháy bỏng giành lại độc lập cho Tổ quốc, tự do cho nhân dân. Người từng nói: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất  cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”. Tiếp cận với bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ, bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1791 của nước Pháp, Người đã tiếp thu những nhân tố giá trị của chúng và khái quát lên chân lý về quyền của các dân tộc “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

- Mục tiêu đấu tranh Người đặt ra trước hết là phải giành lại độc lập, tự do:

 Đầu năm 1919, Người thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước gửi đến Hội nghị Vécxây bản Yêu sách 8 điểm đòi các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam. Bản yêu sách chưa đề cập đến vấn đề độc lập hay tự trị mà mới chỉ tập trung vào hai nội dung cơ bản:

 Một là, đòi quyền bình đẳng về pháp lý cho người Đông Dương như đối với người Châu Âu. Cụ thể là xoá bỏ các toà án đặc biệt dùng để đàn áp và khủng bố những bộ phận trung thành nhất trong nhân dân; xoá bỏ chế độ cai trị bằng sắc lệnh và thay thế bằng chế độ tạo ra các đạo luật.

 Hai là, đòi các quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho nhân dân, gồm có tự do ngôn luận, báo chí; tự do hội họp; tự do cư trú…

Bản yêu sách đã không được bọn đế quốc chấp nhận, từ đó Người rút ra bài học: Muốn được giải phóng các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình”.

 Tại Hội nghị thành lập Đảng năm 1930 do Hồ Chí Minh đứng ra tổ chức, trong văn kiện của Đảng do Người trực tiếp soạn thảo đã xác định mục tiêu chính trị là: “Đánh đổ chủ nghĩa đế quốc Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập”.

Năm 1941, Hồ Chí Minh về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng nước ta. Người chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (tháng 5/1941), Hội nghị đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết. Tháng 6/1941, Người viết thư kính cáo đồng bào, trong thư chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi giải phóng dân tộc cao hơn tất thảy” (Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 3, trang 198)

Previous Page of 4Next Page

Comments & Reviews (2)

Login or Facebook Sign in with Twitter


library_icon_grey.png Add share_icon_grey.png Share

Who's Reading

Recommended