Previous Page of 4Next Page

XUẤT HUYẾT TIÊU HÓA

spinner.gif

Mục tiêu 

XUẤT HUYẾT TIÊU HÓA 

 

Xuất huyết tiêu hóa 

 

27 

 

1. Liệt kê được những đặc điểm chung của xuất huyết tiêu hoá 

2. Kể nguyên nhân xuất huyết tiêu hoá phổ biến qua từng lứa tuổi ( sơ sinh, dưới 2 tuổi,  

> 2 tuổi), qua vị trí ( cao hay thấp )  

3. Nêu được nguyên tắc xử trí ban đầu

 

Xuất huyết tiêu hoá là một bệnh cảnh tiêu hoá thường gặp ở trẻ em. Bệnh có thể rất lành tính  

và thường tự khỏi nhưng cũng đôi khi cần phải cấp cứu kịp thời mới tránh được tử vong cho  

bệnh nhân, nguyên nhân của bệnh rất đa dạng và có liên quan mật thiết đến lứa tuổi xuất hiện  

bệnh. Phương tiện chẩn đoán nguyên nhân đôi lúc gặp nhiều khó lhăn và điều trị phụ thuộc  

phần lớn vào nguyên nhân gây bệnh 

1.Đặc điểm chung 

1.1.Tính chất máu 

Số lượng có thể nhiều, có thể ẩn. Màu đỏ tưoi, đỏ sậm hay nâu, đen.. 

1.2.Hình thái xuất huyết 

Nôn và đi cầu ra máu, có thể cấp hoặc mạn tính.  

1.3.Vị trí xuất huyết 

Có thể xảy ra bất kỳ nơi nào của ống tiêu hoá, khó xác minh vị trí trong một số trường hợp.  

Ruột non là nơi khó nhất và cũng là nơi ít xảy ra nhất. Khi xuất huyết xảy ra tại thực quản,  

dạ dày hay tại tá tràng thường gây nôn ra máu.  

1.4.Các loại tổn thương gây xuất huyết tiêu hoá 

Tổn thương loét niêm mạc ống tiêu hoá là nguyên nhân phổ biến gây xuất huyết tiêu hoá;  

hiếm hơn là vỡ tĩnh mạch trong tăng áp lực tĩnh mạch cửa và rất hiếm do dị tật bẩm sinh 

1.5.Tầm quan trọng 

Xuất huyết tiêu hoá là một cấp cứu liên quan đến cả nội nhi và ngoại khoa, lúc đầu có thể ít  

nhưng sau đó từ vài giờ đến vài ngày, có thể chảy máu dữ dội, tử vong nhanh chóng. 

2.Nguyên nhân  

Có nhiều cách phân loại nguyên nhân. Trong lĩnh vực nhi khoa, người ta thường phân loại  

nguyên nhân theo tổn thương và lứa tuổi.  

2.1.Xuất huyết tiêu hoá do tổn thương tại đường tiêu hoá 

2.1.1.Ở tuổi sơ sinh  

- Viêm ruột hoại tử ở trẻ sơ sinh .Bệnh thường xảy ra ở trẻ đẻ non, bị ngạt ở thời kỳ chu sinh,  

suy hô hấp, bệnh tim bẩm sinh hoặc cho ăn nhân tạo sớm hoặc ăn thức ăn có độ thẩm thấu  

cao như sữa bò. Bệnh do thiếu máu cục bộ ở ruột, do thiếu oxy, do thiếu nước nên làm tăng  

độ quánh của máu hoặc do nhiễm trùng nặng sẽ dẫn đến hoại tử ruột nhất là hồi tràng.Bệnh  

thường xảy ra trong tuần lễ đầu với các triệu chứng : bỏ bú, nôn trớ, chướng bụng, ỉa ra  

máu, hay kèm theo choáng. Bệnh thường tiến triển đến thủng ruột, viêm phúc mạc. X-quang  

có hình ảnh bóng hơi ở thành ruột, hoặc hình ảnh tắc ruột, ruột non dãn. Tỷ lệ tử vong cao  

30 - 50%. Điều trị bao gồm hồi sức tuần hoàn hô hấp, kháng sinh, ngưng cho ăn bằng đường  

miệng, phẫu thuật nếu điều trị nội khoa thất bại. Để phòng bệnh thì ở trẻ đẻ non cần hạn chế  

đặt tỉnh mạch, động mạch rốn, hạn chế ngạt sau sinh, tránh ăn thức ăn có độ thẩm thấu cao;  

ăn nhanh, ăn nhiều, phòng hạ đường huyết, hạ thân nhiệt. Phòng nhiễm khuẩn, kháng sinh  

dự phòng không có hiệu quả 

- U máu : Bệnh hiếm gặp, 50% có u máu ở da, 50% gặp ở ruột già. Biến chứng gồm xuất  

huyết tiêu hoá, lồng ruột. 

 

 

Xuất huyết tiêu hóa 

 

28 

- Bệnh ruột gấp đôi : Bệnh hiếm gặp. Có 3 loại ruột đôi : khu trú, kèm theo bất thường cột  

sống và tuỷ sống, đại tràng đôi. Nguyên nhân chưa rõ. Biến chứng gồm thủng ruột, xuất  

huyết. Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, X-quang, siêu âm, chụp bóng nhấp nháy bằng  

technetium 

2.1.2.Xuất huyết tiêu hoá ở trẻ dưới 2 tuổi  

- Viêm ruột non - ruột già cấp : Theo Tổ chức y tế thế giới nguyên nhân ở các nước đang

Previous Page of 4Next Page

Comments & Reviews

Login or Facebook Sign in with Twitter
library_icon_grey.png Add share_icon_grey.png Share

Who's Reading

Recommended