ki thuat tiem

5.9K 2 0

TIÊM TRONG DA

Mục tiêu:

1.Nêu được áp dụng của tiêm trong da.
2.Nhận định được tiêm thuốc vào đúng trong da.
3.Nhận định được kết quả của tiêm thử phản ứng thuốc.
4.Tiến hành tiêm thuốc vào trong da theo đúng quy trình kỹ thuật.

Tiêm trong da là tiêm một lượng thuốc rất nhỏ 1/10 ml vào lớp thượng bì. Thuốc được hấp thu rất chậm.
1.Chỉ định của tiêm trong da
Tiêm trong da được áp dụng trong các trường hợp sau:
1.1.Tiêm một số loại vaccin phòng bệnh, ví dụ như tiêm vaccin BCG phòng lao cho trẻ sơ sinh.
1.2.Tìm phản ứng BCG để chuẩn đoán lao.
1.3.Thử phản ứng của cơ thể đối với thuốc.
Ví dụ: Thử phản ứng một số thuốc dễ gây dị ứng như penicillin, strep - tomycin.
2.Dụng cụ
Ngoài những dụng cụ cần thiết phục vụ cho tiêm, ta cần chọn bơm và kim tiêm cho thích hợp:
- Thường dùng bơm tiêm nhỏ, loại 1 ml có vạch chia 1/10 ml để tính lượng thuốc được chính xác (vì thường dùng lượng thuốc rất nhỏ = 1/10 ml).
· Ngoài ra còn có loại bơm tiêm nhỏ dài đặc biệt có độ khắc tỉ mỉ 1/100 - 2/100 ml để có thể tính liều nhỏ chính xác (bơm tiêm vaccin phòng bệnh).
- Kim tiêm: Rất nhỏ dài 1,5 cm đường kính 4/10 - 5/10 ml đầu mũi vát ngắn để dễ ngập trong biểu bì.
· Tất cả bơm tiêm, kim tiêm phải được hấp sấy khô để bảo đảm vô khuẩn.
3.Vùng tiêm
Nói chung vùng để chọn tiêm trong da rất nhiều và rộng, nhưng thường tiêm vào 1/3 trên mặt trước trong cẳng tay vì chỗ đó da mỏng dễ tiêm, da lại có màu nhạt, dễ phân biệt. Nếu có phản ứng cục bộ dễ nhìn thấy.
Ngoài ra còn có thể tiêm chỗ bả vai, cơ denta cánh tay, tiêm phòng bệnh lưu ý khi tiêm tránh các mạch máu.




4.Tư thế bệnh nhân
- Đối với người lớn: Ngồi kéo ống tay áo lên cao, và đặt cẳng tay lên một gối nhỏ, hoặc nằm ngửa tay giang ra đặt lên gối nhỏ.
- Đối với trẻ nhỏ: Người mẹ ngồi trên ghế ôm trẻ vào lòng dùng 2 đùi kẹp 2 chân trẻ, 1 tay vòng qua thân trẻ ôm và giữ cánh tay, tay khác giữ lấy cẳng tay trẻ đặt lên trên gối nhỏ ở góc bàn.
5.Cách tiêm
- Xác định vị trí tiêm.
- Bộc lộ vùng tiêm.
- Sát khuẩn vị trí tiêm bằng cồn 700 hoặc ete là tốt nhất.
- Sát khuẩn tay điều dưỡng.
- Tay trái nắm mặt sau cẳng tay hoặc cánh tay vùng định tiêm vừa đỡ tay bệnh nhân vừa đùng các ngón tay để miết căng mặt da chỗ định tiêm.
- Tay phải cầm bơm tiêm có gắn kim để mũi vát của kim ngửa lên trên và thẳng với vạch chia ở thân bơm tiêm, khẽ gẩy mũi kim tiêm vào mặt da. Khi mũi kim đã bén vào mặt da thì hạ thấp bơm tiêm xuống sát mặt da (chếch khoảng từ 10 - 150) rồi đẩy nhẹ kim cho ngập hết mũi vát của kim (không nên đưa kim theo chiều dọc của cẳng tay hoặc cánh tay mà phải đưa chéo để lúc hạ bơm tiêm không bị vướng).
- Khi đã ngập hết mũi vát thì đổi tay (ngón trỏ tay trái giữ đốc kim, ngón cái giữ thân bơm tiêm, ngón giữa ngón nhẫn, ngón út giữ bên cạnh thân bơm tiêm và tay phải dùng ngón cái từ từ bơm thuốc vào).
+ Đối với trẻ em:
Khi đã ngập hết mũi vát thì ngón các bàn tay trái từ từ chuyển ra đặt lên trên đốc kim và giữ đốc kim ở nguyên vị trí đó. Ngón trỏ và ngón giữa tay phải kẹp giữa đầu dưới của bơm tiêm và đẩy pít tông bơm thuốc vào bằng ngón cái.
Khi bơm thuốc vào phải theo dõi xem thuốc có vào đúng trong da không bằng 2 cách:
- Nhìn vết tiêm chỗ nước vào nổi cục to bằng hạt ngô, sần da cam, màu da chỗ tiêm ngả màu trắng bệch (bơm chừng 1/10 ml).
- Tự mình thấy đẩy thuốc vào rất chặt tay, có cảm giác như kim bị tắc.
- Sau khi đã bơm thuốc đủ liều (1/10 ml) rút kim ra kéo chệch căng da chỗ tiêm vài giây cho thuốc khỏi trào ra theo mũi kim rồi sát khuẩn lại bằng cồn bông.
+ Trong trường hợp tiêm vaccin phòng bệnh thì không sát khuẩn lại bằng bông cồn (vì các loại hóa chất, cồn đều có thể làm hủy hoại vaccin do đó làm mất hiệu lực của vaccin).
- Nếu là tiêm thử phản ứng lấy bút xanh đánh dấu (vẽ vòng quanh chỗ tiêm lại) để theo dõi 15 đến 20 phút sau đó đọc kết quả.
- Phải báo cáo y bác sĩ điều trị, ghi rõ vào hồ sơ hoặc phiều tiêm thuốc của bệnh nhân (vào phiếu thử phản ứng dán vào hồ sơ bệnh án).
+ Trong trường hợp nghi ngờ kết quả thử phản ứng thì phải làm thử lại bằng phương pháp đối chứng để so sánh.
Cách làm: Tiêm sang tay bên kia một mũi 1/10 ml nước cất tiêm (bơm tiêm nước cất không được dính dấu vết thuốc kháng sinh đã thử) rồi so sánh và nhận định kết quả.

Bảng đối chứng


TIÊM DƯỚI DA

Mục tiêu:

1.Nêu được chỉ định, chống chỉ định của tiêm dưới da.
2.Nêu được tai biến của tiêm dưới da - cách phát hiện xử trí và phòng ngừa.
3.Tiêm được thuốc vào dưới da theo đúng quy trình kỹ thuật.

Tiêm dưới da là đưa một lượng dung dịch thuốc vào mô liên kết lỏng lẻo dưới da (lớp mỡ).
1.Chỉ định - Chống chỉ định
1.1.Chỉ định
Khá rộng rãi, chủ yếu là do một số loại thuốc mà ta muốn cho thuốc thấm dần vào cơ thể để phát huy tác dụng từ từ.
Thí dụ như: Atropin sulfat, insulin...
1.2.Chống chỉ định
Một số thuốc dầu khó tan ví dụ: Testosteron
2.Dụng cụ - Thuốc
- Bơm tiêm: Thường dùng loại 2 ml, 5 ml.
- Kim tiêm: Dài 25 mm - 30 mm đầu vát dài hơn tiêm trong da.
- Các dụng cụ cần thiết khác.
- Thuốc theo y lệnh.
3.Vùng tiêm
Tất cả những chỗ nào trên cơ thể không nhạy cảm quá có nhiều cơ đều có thể tiêm được vì tiêm vào dưới da còn xa xương, xa các mạch máu thần kinh lớn. Nhưng người ta thường chọn chỗ để tiêm: Mô dưới da nhẽo, ít cọ xát, ít bị nhiễm bẩn, ít đau, không có sẹo, viêm lở loét...
Thường tiêm vào: Mặt ngoài cánh tay (vùng cơ tam đầu cánh tay) có thể tiêm vùng mặt trước ngoài đùi khoảng 1/3 giữa đùi, bả vai...
Nếu người bệnh tiêm nhiều cần phải thay đổi chỗ tiêm và cố gắng tránh tiêm vào chỗ mũi kim cũ.
4.Cách tiêm
- Bệnh nhân có thể nằm trên giường hoặc ngồi trên ghế có tựa một cách thoải mái.
- Bộc lộ vùng tiêm.
- Sát khuẩn vị trí tiêm bằng cồn 700 từ trong ra ngoài.
- Điều dưỡng viên sát khuẩn tay bằng cồn 700 (chấm cồn vào các đầu ngón tay).
- Tay trái dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ véo da bệnh nhân lên.
- Tay phải cầm bơm tiêm có gắn kim ngửa mũi vát của kim lên trên, chếch với mặt da 30 - 450 đâm kim nhanh qua da vào mô liên kết dưới da. Khi có cảm giác là kim đã vào mô liên kết dưới da thì bỏ tay trái và xoay nhẹ pít tông bơm tiêm vài lần xem có máu ra không, nếu không có máu ra theo, mới bơm thuốc từ từ vào cơ thể bệnh nhân.
· Nếu có máu ra theo là đâm phải mạch máu thì bình tĩnh rút bơm kim ra hoặc đâm sâu thêm vào khi nào không có máu ra nữa thì bơm thuốc từ từ.
- Khi đã bơm hết thuốc, tay trái kéo chếch căng da chỗ tiêm để thuốc không thoát ra theo mũi kim.
· Tay phải nhẹ nhàng rút kim ra nhanh rồi dùng bông tẩm cồn sát khuẩn nhẹ lên chỗ tiêm sau đó đỡ bệnh nhân nằm lại tư thế thoải mái.
5.Các tai biến của tiêm dưới da - Cách phát hiện và xử trí
5.1.Tai biến do vô khuẩn không tốt
Do không đảm bảo nguyên tắc vô khuẩn trước, trong và sau khi tiêm dẫn tới bệnh nhân bị nhiễm khuẩn.
+ Gây ra áp xe tại chỗ:
- Phát hiện: Chỗ tiêm tấy đỏ, sưng nóng, toàn thân có thể sốt hoặc không.
- Xử trí: Chườm nóng, dùng kháng sinh trong trường hợp thuốc tiêm không phải là thuốc kháng sinh (giai đoạn viêm tấy).
- Chích áp xe nếu áp xe đã mềm hóa mủ rõ.
+ Làm lây bệnh truyền nhiễm như viêm gan virus
- Do vô khuẩn kim không tốt (kim tiêm từ người mắc bệnh từ người mắc bệnh viêm gan virus sang người không bị viêm gan virus.
- Phát hiện: Vàng da, vàng mắt, nước tiểu sẫm màu, người bệnh chán ăn, mệt mỏi (thường xảy ra muộn sau khi tiêm từ 4 - 6 tháng).
5.2.Tai biến do quá trình tiêm
- Gãy kim, quằn kim do bệnh nhân giãy giụa mạnh hoặc do tiêm không đúng kỹ thuật.
· Đề phòng: Không bao giờ tiêm ngập đốc kim, nếu kim gẫy có thể rút ra được.
- Bệnh nhân có thể bị sốc: Do bơm thuốc quá nhanh hoặc bệnh nhân quá sợ hãi, và bệnh nhân bị đau không chịu được.
· Đề phòng: Thực hiện nguyên tắc khi tiêm 2 nhanh 1 chậm (đâm kim và rút kim nhanh) bơm thuốc chậm, trước khi tiêm phải làm công tác tư tưởng tốt để bệnh nhân yên tâm tránh sợ hãi, lo lắng...
5.3.Các tai biến do thuốc gây lên
- Bệnh nhân đau, áp xe vô khuẩn: Do thuốc tiêm vào không tiêu đi được hoặc tiêu rất chậm.
· Phát hiện: Chỗ tiêm xưng nóng đỏ.
· Xử trí: Chườm nóng, chích áp xe nếu cần.
- Có thể gây mảng mục ở trẻ em như tiêm insulin, muối bismut, muối quinin, các chất dầu nói chung (dầu long não) các hormon, các dung dịch iod gây ra các hòn cứng.
- Sốc: Do phản ứng của cơ thể đối với thuốc.