Lịch sử âm nhạc Việt Nam

8.9K 11 0

Lịch sử Âm nhạc Việt Nam 
Lịch sử âm nhạc Việt Nam bị chi phối bởi lịch sử đấu tranh và phát triển của dân tộc Việt Nam. Chúng ta chia ra làm 3 giai đoạn chính và trình bày trong 5 chương dưới đây: 
Giai đoạn 1: Trước năm 1945, khi đất nước còn bị đô hộ bởi thực dân Pháp. 
Giai đoạn 2: Từ năm 1945 đến năm 1975, âm nhạc trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và thống nhất đất nước. 
Giai đoạn 3: Từ năm 1975 cho đến nay, âm nhạc trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hoá và hiện đại hoá. 
Chương 1: Nền âm nhạc Việt Nam thế kỷ 20 - Sự ra đời muộn màng 
Chương 2: Nền âm nhạc Việt Nam thế kỷ 20 - Một cách nhìn 
Chương 3: Các dòng âm nhạc và sự phân chia thời kỳ 
Chương 4: Năm tên tuổi lớn của âm nhạc Việt Nam hiện đại 
Chương 5: Việt Nam sẽ trở thành một địa chỉ âm nhạc kinh điển

.

.

.

Chương 1: Nền âm nhạc Việt Nam thế kỉ 20 - Sự ra đời muộn màng 
Mãi những năm cuối thập kỷ 30 người ta mới biết đến nền nhạc mới Việt Nam, lúc đó dưới danh nghĩa nhạc cải cách (hoặc còn gọi là tân nhạc). Năm 1938, những bài hát đầu tiên của Việt Nam có tác giả, được ghi âm theo cách ký âm Tây Phương xuất hiện trên tờ Thời nay (nhưng lúc đó có khi cả vài năm). Chúng đã được trình diễn trong các tư gia, phòng trà, quán rượu, rạp hát và rạp chiếu bóng và có khi trong một nhóm nhỏ.. 
Bấy giờ lần đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện tên tuổi những tãc giả âm nhạc mà ta thường gọi là nhạc sĩ sáng tác: các ông Nguyễn Văn Tuyên, Nguyễn Xuân Khoát, Dương Thiệu Tước, Văn Chung, Thẩm Oánh, Lê Yên, Lê Thương, Hoàng Qúy, Đặng Thế Phong; có bài hát, có tác giả là có trình diễn và thâu âm có xuất bản âm nhạc v..v...có báo âm nhạc; hãng đĩa Beka và đài phát thanh Pháp Á, những nhà xuất bản âm nhạc tư nhân như Hương Giang, Tinh Hoa, Á Châu v..v... và tờ báo âm nhạc ra đời hơi muộn mằn đó là tờ Việt nhạc của ông Thẩm Oánh. Cái thiếu duy nhất của thời ấy là thiếu một nhạc viện chính quy. Tính chất tài tử của âm nhạc Việt Nam có lẽ được hình thành ngay từ đầu chính bởi cái đặc điểm thiếu duy nhất đó. 
Sự gần gũi giữa nền nhạc mới Việt Nam và thơ mới và thơ hiện đại sự hình thành nền âm nhạc mới Việt Nam cũng từa tựa như sự hình thành của thơ mới. Duy chỉ có điều khác là trước thơ mới còn có cả thơ cổ điển, còn trước nhạc mới không có gì cả ngoai trừ âm nhạc dân gian và cung đình truyền thống. Cũng bắt đầu từ những năm 30 tuy điểm xuất phát cua nhạc tuy có chậm hơn một chút nhạc mới cũng giống thơ mới là có cùng khuynh hướng lãng mạn. Những tác giả đầu tiên của nó như Lê Thương, Dương Thiệu Tước, Đặng Thế Phong là những tác giả lãng mạn, có thể đem họ so sánh với Phạm Huy Thông, Xuân Diệu, Huy Cận bên thơ. Nếu suy nghĩ tiếp sẽ thấy có hàng chục cái từa tựa khác. Điều ấy thấy rằng trong quá trình phát triển của nhạc và thơ 6 thập kỉ sau này đương nhiên cả hai sẽ có nhiều nét tương đồng. Không phải chỉ có nét tương đồng mà giữa nhạc mới và thơ mới và thơ hiện đại nói chung có quan hệ rất mật thiết. Lời bài “Giọt mưa thu†của Đặng Thế Phong có thể coi như một bài thơ mới đặc sắc. Chủ nghĩa trong ca khúc Trịnh Công Sơn trước 1975 đôi chỗ táo bạo và giá trị như một nhà thơ cách tân hiện đại. Rất dễ tìm ra những kẻ hát thơ trong số những nhạc sĩ nổi tiếng và cũng không khó tìm ra những người có bài hát nổi tiếng vốn lại là thi sỹ. Sự mật thiết này bộc lộ rõ hơn khi những năm 90 của thế kỉ này rất nhiều nhạc sỹ đã dựa hẳn vào thơ để viết bài hát. Hát thơ, phổ thơ, đồng hành với thơ là một đặc điểm nổi bật khác nữa của âm nhạc Việt Nam thế kỉ này. 
Sự chi phối của dân ca 
Được sự cổ vũ của cuộc cách mạng DTDC, dân ca đã được đề cao và những yếu tố cơ bản của nó đã được sử dụng để hình thành nền âm nhạc mới Việt Nam. Tân nhạc, mặc dù đã được hình thành trên nền tảng kỹ thuật âm nhạc phương Tây, nhưng ngay từ những thành tựu đầu tiên (chủ yếu là bài hát) nó đã tìm cách dọn đường về quê. Những thủ lĩnh của nhạc cải cách đã biết kết hợp tri thức âm nhạc Tây phương và chất liệu dân ca để tạo ra các dáng hình đặc biệt cho ca khúc Việt Nam. Không cần trải qua nhiều thể nghiệm, “Hòn vọng phu†của Lê Thương, “Màu thời gian†của Nguyễn Xuân Khoát, “Đêm tàn bến ngự†của Dương Thiệu Tước, “Bóng ai qua thềm†của Văn Chung, “Giọt mưa thu†của Đặng Thế Phong... ngay lập tức trở thành những bài hát mang bản sắc rất đặc biệt Việt Nam, nghe là thấy ngay. Từ dạo ấy Cách mạng đã tôn vinh dân ca, đưa dân ca lên vai trò chủ đạo trong việc phát triển nền âm nhạc Việt Nam hiện đại ở những mức độ khác nhau hầu hết những sáng tác thời kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đều mang âm hưởng của dân ca và chính nhờ có dân ca mà nhiều nhạc sĩ lãng mạn đã thoát khỏi cái khuôn sáo của âm nhạc cổ điển phương Tây để tiếp cận với những hệ thống biểu đạt mới để rồi trở thành những tác giả khác hẳn về tầm cỡ. 
Đối với những nhạc sĩ trẻ, dân ca đã mở đường mới cho công việc tìm kiếm đôi khi đã trở nên bế tắc. Đối với những nhạc sĩ bình thường, dân ca đã chắp cánh cho những sáng tác của họ đưa những sáng tác ấy đến những giá trị mà chính họ cũng không ngờ tới. Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận, Văn Chung, Phạm Duy thời kì đầu 1943-1951, Lê Yên, Nguyễn Văn Tí, Hoàng Vân, Phan Huỳnh Điểu và những thế hệ nhạc sĩ trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến. Sự tiếp thu dân ca của những người này đã mang lại cho nền âm nhạc một bản sắc riêng biệt không thể trộn lẫn và những giá trị cách tân lớn lao giúp cho nền âm nhạc hiện đại Việt Nam vượt qua cái giá trị mỹ học tiền chiến đã lỗi thời đang trở thành vật cản đường đối với sự phát triển. Ngay cả sau năm 1975 những tên tuổi tiếp tục nổi của nền âm nhạc Việt Nam thống nhất vẫn là những người thấm nhuần dân ca và biết khai thác dân ca một cách triệt để nhất (Phó Đức Phương, Nguyễn Cường, Trần Tiến, Dương Thụ...) 
Nói đến nền âm nhạc Việt Nam thế kỉ 20, sự chi phối của dân ca đối với sáng tác có lẽ là một đặc điểm nổi bật nhất. 

Lịch sử âm nhạc Việt NamNơi những câu chuyện sống. Hãy khám phá bây giờ