VAI TRÒ, HẠN CHẾ VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA CNTB

13.6K 4 3

IV. VAI TRÒ, HẠN CHẾ VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN

Hai xu thế: phát triển nhanh chóng và trị trệ thối nát được thể hiện rõ qua vai trò và hạn chế của chủ nghĩa tư bản như sau:

1. Vai trò của CNTB đối với sự phát triển của nền sản xuất xã hội

CNTB phát triển qua hai giai đoạn: CNTB cạnh tranh tư do và CNTB độc quyền mà nấc thang tột cùng của nó là CNTB độc quyền nhà nước.

Vai trò tích cực đối với sự phát triển sản xuất, đó là:

- Sự ra đời của CNTB đã giải phóng loài người khỏi "đêm trường trung cổ" của xã hội phong kiến, đoạn tuyệt với nền kinh tế tự nhiên, tự túc, tự cấp chuyển sang phát triển nền kinh tế hàng hoá TBCN, chuyển sản xuất nhỏ thành sản xuất lớn hiện đại: dưới tác động của quy luật giá trị thặng dư và quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá, CNTB đã làm tăng năng suất lao động, tạo ra khối lượng của cải, vật chất khổng lồ - "CNTB ra đời chưa đầy 100 năm mà đã tạo ra một khối lượng của cải vật chất khổng lồ bằng tất cả các thế hệ trước đây cộng lại" ( "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản"- 1848).

- Phát triển lực lượng sản xuất

+ Quá trình phát triển của CNTB đã làm cho LLSX phát triển mạnh mẽ với trình độ kỹ thuật và công nghệ ngày càng cao: từ kỹ thuật thủ công lên kỹ thuật cơ khí (thời kỳ của C. Mác và Lênin) và ngày này các nước TBCN cũng đang là những quốc gia đi đầu trong việc tự động hoá, tin học hoá và công nghệ hiện đại.

+ Giải phóng sức lao động, nâng cao hiệu quả khám phá và chinh phục thiên nhiên của con người.

- Thực hiện xã hội hoá sản xuất

+ CNXH đã thúc đẩy nền sản xuất hàng hoá phát triển mạnh và đạt tới mức điển hình nhất trong lịch sử.

+ Xã hội hoá sản xuất cả chiều rộng và chiều sâu: đó là sự phát triển của phân công lao động xã hội, sản xuất tập trung với quy mô hợp lý, chuyên môn hoá sản xuất và hợp tác lao động sâu sắc, ..--> làm cho các quá trình sản xuất phân tán được liên kết với nhau và phụ thuộc lẫn nhau thành một hệ thống, thành một quá trình sản xuất xã hôi.

- CNTB thông qua cuộc cách mạng công nghiệp đã lần đầu tiên biết tổ chức lao động theo kiểu công xưởng và do đó đã xây dựng được tác phong công nghiệp cho người lao động, làm thay đổi nề nếp thói quen của người lao động sản xuất nhỏ trong xã hội phong kiến

- CNTB lần đầu tiên trong lịch sử đã thiết lập lên nền dân chủ tư sản, nền dân chủ tư sản này tuy chưa phải là hoàn hảo song so với thể chế chính trị trong các xã hội phong kiến, nô lệ,... vẫn tiến bộ hơn rất nhiều vì nó được xây dựng trên cơ sở thừa nhận quyền tự do thân thể của cá nhân.

=> Với những thành tựu và đóng góp trên, sự phát triển của nền sản xuất xã hội, là sự chuẩn bị tốt nhất những điều kiện, tiền đề cho sự ra đời của CNXH trên phạm vi toàn thế giới.

2. Hạn chế của chủ nghĩa tư bản

- Trước hết, về lịch sử ra đời của CNTB:

+ CNTB ra đời gắn liền với quá trình tích luỹ nguyên thuỷ của CNTB  đó là quá trình tích luỹ tiền tệ nhờ vào những biện pháp ăn cướp, tước đoạt đối với những người sản xuất hàng hoá nhỏ và nông dân tự do; nhờ những hoạt động buôn bán, trao đổi không ngang giá, qua đó mà thực hiện sự bóc lột, nô dịch đối với những nươc lạc hậu.

+ Về quá trình tích luỹ nguyên thuỷ của CNTB, C. Mác cho rằng, đó là lịch sử đầy máu và bùn nhơ, không giống như một câu chuyện tình ca, nó được sử sách ghi chép lại bằng những trang đẫm máu và lửa không bao giời phai.

- Cở sở cho sự tồn tại và phát triển của CNTB là quan hệ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân làm thuê.  sự bất bình đẳng, phân hoá xã hội vẫn là điều không tránh khỏi.

- Các cuộc chiến tranh thế giới với mục đích tranh giành thị trường, thuộc địa và khu vực ảnh hưởng đã để lại cho loài người những hậu quả nặng nề: hàng triệu người vô tội đã bị giết hại, sức sản xuất của xã hội bị phá huỷ, tốc độ phát triển kinh tế của thế giới bị kéo lùi lại hàng chục năm.

Ngày nay, chính CNTB là thủ phạm châm ngòi cho những xung đột quân sự vũ trang giữa các quốc gia.

- CNTB sẽ phải chịu trách nhiệm chính trong việc tạo ra hố ngăn cách giữa các nước giàu và các nước nghèo trên thế giới (thế kỷ XVIII chênh lệch về mức sống giữa nước giàu nhất và nước nghèo nhất mới chỉ là 2,5 lần, hiện nay số chênh lệch ấy là 250 lần).

- Trong những năm 80 của thế kỷ XX, thế giới thứ ba bị trì trệ, suy thoái. Ví dụ:.." ở một vài nước Mỹ La Tinh, GNP theo đầu người hiện nay thấp hơn so với 10 năm trước đây, ở nhiều nước Châu Phi, nó còn thấp hơn cách đây 20 năm".

- Các cường quốc tư bản độc quyền hàng ngày mấy thế kỷ nay đã tăng cường vơ vét tài nguyên, bóc lột nhân công các nước ngheo và tìm cách khống chế họ trong vòng phụ thuộc thông qua các con đường xuất khẩu tư bản, viện trợ, cho vay...--> Các nước nghèo không những bị cạn kiệt về tài nguyên mà còn mắc nợ không trả được, điển hình là các quốc gia ở Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh. Ở Braxin người ta tính ra riêng số lãi mà Braxin phải trả trong năm 1988 bằng 288 triệu xuất lương tối thiểu hay bằng xây nhà cho 30 triệu người, trong khi đó ước tính khoảng 2/3 dân Braxin thiếu ăn.

3. Xu hướng vận động của chủ nghĩa tư bản

Những thành tựu và hạn chế trên đây của CNTB bắt nguồn từ mâu thuẫn cơ bản của CNTB: mâu thuẫn giữa tính chất và trình độ xã hội hoá cao của LLSX với quan hệ sở hữu tư nhân TBCN về TLSX.

- CNTB càng phát triển, tính chất và trình độ xã hội hoá của LLSX ngày càng cao thì quan hệ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về TLSX ngày càng trở nên chật hẹp so với nội dung vật chất ngày càng lớn lên của nó.

 CNTB phát triển đến một chừng mực nhất định, quan hệ sở hữu tư nhân TBCN sẽ bị phá vỡ và thay vào đó là một quan hệ sở hữu mới - sở hữu xã hội (sở hữu công cộng) về TLSX được xác lập để đáp ứng yêu cầu phát triển của LLSX  PTSX TBCN sẽ bị thủ tiêu và một PTSX mới - PTSX cộng sản chủ nghĩa sẽ ra đời và phụ định PTSX TBCN.

- PTSX TBCN không tự tiêu vong và PTSX cộng sản chủ nghĩa cũng không tự phát hình thành mà phải được thực hiện thông qua cuộc cách mạng xã hội, trong đó giai cấp có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cuộc cách mạng xã hội này chính là giai cấp công nhân.