Đại Đường Tây Vực Ký. Phê bình bản dịch của Thích Như Điển

Bắt đầu từ đầu

Trong "Lời tựa" cho bản dịch "Đại Đường Tây Vực Ký", Thích Như Điển viết: - "Quý vị đang cầm trên tay quyển "Đại Đường Tây Vức Ký" được chuyển dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt là do kết quả của sự miệt mài dịch thuật của chúng tôi từ ngày 24 tháng 10 năm 2003 đến ngày 10 tháng 12 năm 2003 tại Tu Viện Đa Bảo, Úc Đại Lợi nhân mùa nhập thất lần đầu tại đây. Xin tạ ơn Tam bảo đã soi chiếu cho chúng con để lần dò từng câu văn từng ý chữ mà ngài Huyền Trang, một bậc danh tăng đời Đường đã thể hiện trọn vẹn hết tâm ý khi đi chiêm bái, học hỏi và ghi lại nơi Thánh Địa ròng rã 17 năm trời......". ............ ......... ......... ......... ......... ............ Chúng tôi được một điều là biết thêm tiếng Nhật, cho nên việc tra cứu có phần dễ hơn một ít. Riêng chữ Hán nào không rõ thì phải tra tự điển cùng với Thầy Đồng Văn để làm cho rõ nghĩa trước khi dịch. Thầy Đồng Văn biết nhiều chữ Hán và đã tốt nghiệp Tiến Sĩ Phật Học ở Ấn Độ năm 2001 tại Đại Học New Delhi nên những phong tục tập quán và địa danh Thầy ấy tương đối rành rẽ. Sau khi dịch xong chúng tôi trao qua Hòa Thượng Thích Bảo Lạc, bào huynh của tôi cũng đã tốt nghiệp Đại Học Phật Giáo Thiền Tào Động (Komazawa) tại Nhật để xem lại cho thật kỹ một lần nữa, trước khi cho in thành sách. Cho nên có thể tin tưởng thêm một phần lớn của dịch phẩm này. Thêm vào đó, Hạnh Giới là đệ tử xuất gia của tôi cũng mới vừa tốt nghiệp Tiến Sĩ Triết Học về Tôn Giáo và Ngôn Ngữ Học tại Đại Học Hannover, Đức Quốc cũng đã phụ lực trong việc đánh máy, tham cứu bài vở..........". (Trang 1 và trang 8). ~ Trong những trang phê bình sau đây tôi cũng sẽ "lần dò từng câu văn từng ý chữ" để coi bộ 4 dịch thuật, gồm Thích Như Điển cầm đầu đứng tên, 2 ông tiến sĩ trợ dịch và 1 ông hòa thượng duyệt xét bản dịch, làm ăn ra làm sao? và nhất là để coi dịch phẩm của bộ 4 này "có thể tin tưởng thêm phần lớn" như lời của ông đứng tên hay không?

Nam mô thập phương thường trụ Tam Bảo. Nam mô thập phương thường trụ Tam Bảo. Nam mô thập phương thường trụ Tam Bảo. Lạy Tổ Duy Thức Tông!

Nguyên tác. A Kỳ Ni Quốc 01 / 34. - "A Kỳ Ni Quốc Đông Tây lục bách dư lí, Nam Bắc tứ bách dư lí. Quốc Đại Đô thành chu lục, thất lí, tứ diện cứ sơn , đạo hiểm, dị thủ. Tuyền, lưu giao đới, dẫn thủy vi điền. Thổ nghi: môn, thử, túc mạch, hương tảo, bồ đào, lê, nãi chư quả. Khí tự hòa sướng, phong tục chất trực. Văn tự thủ tắc Ấn Độ, vi hữu tăng tổn..... Vương, kì quốc nhân dã, dũng nhi quả lược, hiếu tự xưng phạt. Quốc vô kỷ cương, Pháp bất chỉnh túc". / Đại Đường Tây Vực Ký. Qu. I. A Kỳ Ni Quốc /. Thích Như Điển dịch. - "Nước A Kỳ Ni, đông tây hơn sáu trăm dặm. Nam bắc hơn bốn trăm dặm, chu vi của Thủ đô 67 dặm. Bốn phía bao bọc bởi núi non hiểm trở. Sông ngòi ao hồ, lấy nước đó làm ruộng. Ruộng ấy cấy lúa. Trồng hoa, trồng nho, lê và các thứ cây ăn quả khác. Khí hậu điều hòa, phong tục chất trực. Chữ nghĩa lấy từ tiếng Ấn Độ..... Vua của nước này là người dõng mãnh mưu lược; nhưng nước không có kỷ cương, luật pháp không chỉnh đốn". (Trang 32).

Minh Di. - "Nước A Kỳ Ni từ Đông qua Tây dài hơn 600 dặm, từ Nam lên Bắc xa hơn 400 dặm. Kinh Thành nước này chu vi 6, 7 dặm, bốn bề dựa núi, đường đi hiểm trở, (ở vị trí) dễ phòng thủ. Sông, suối liền nhau, (dân ở đây) dẫn nước vào để làm ruộng. Thổ sản có: (lúa) kê, lúa nếp, lúa mạch, táo (tàu), nho, lê, táo, các thứ trái cây. Khí hậu ôn hòa, dễ chịu, con người thành thực, thẳng thắn. Văn tự thì theo qui tắc của chữ viết Ấn Độ, có sửa đổi đôi chút ...... Vua là người bản xứ, dũng cảm nhưng kém mưu lược, thích việc chinh phạt. Quốc gia thì không phép tắc, Pháp luật thì lỏng lẻo". [Phụ chú. 1 xích thời Huyền Trang tính ra hệ thống SI tương đương 0.311 m. 10 xích = 1 trượng = 3.11 m. 10 trượng = 1 dẫn = 31.10 m. 18 dẫn = 1 Lí = 18 x 31.10 m = 559.8 m, tức hơn nửa cây số một chút. 600 dặm = 600 x 559.8 = 335.88 km. 400 dặm = 400 x 559.8 = 223.92 km. Vậy, diện tích của nước A Kỳ Ni = 335.88 km x 223.92 km = 75,210.249 km2].

Đại Đường Tây Vực Ký. Phê bình bản dịch của Thích Như ĐiểnĐọc truyện này MIỄN PHÍ!