liên minh chiến lược

1.4K 2 0

1.2 Những lợi ích hình thành liên minh

Dễ dàng thâm nhập thị trường: Lợi thế trong công nghệ thông tinh và vận tải đã làm cho việc thâm nhập thị trƣờng nước ngoài trở nên dễ dàng hơn. Xâm nhập thị trƣờng nƣớc ngoài tạo thêm những lợi ích nhƣ lợi thế kinh tế nhờ quy mô, tận dụng các nguồn lực và lợi thế cạnh tranh trên toàn cầu, mở rộng hệ thống phân phối và marketing cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, chi phí và thời gian cho việc thâm nhập thị trƣờng nƣớc ngoài có thể vƣợt quá khá năng của một công ty đơn lẻ, và tham gia vào một liên minh chiến lƣợc với một công ty khác sẽ giúp công ty đạt đƣợc mục tiêu một cách nhanh chóng trong khi vẫn giảm thiểu giá thành. Thêm nữa, việc lựa chọn một đối tác chiến lƣợc có thể là cách an toàn nhất để thâm nhập vào một thị trƣờng còn nhiều rào cản, bao gồm các quy định, chính sách bảo hộ của chính phủ và các đối thủ cạnh tranh trong thị trƣờng nội địa.

Vào giữa thập niên 80, một thời gian dài, Motorola gặp phải những chƣớng ngại lớn khi xâm nhập vào thị trƣờng điện thoại di động của Nhật Bản do những rào cản thƣơng mại (sự bảo hộ của chính quyền). Sự thay đổi xảy ra vào năm 1987 khi một thỏa thuận sản xuất bộ vi xử lí đƣợc ký với Toshiba. Toshiba đã đóng góp mạng lƣới phân phối (rất khó thâm nhập đối với các công ty nƣớc ngoài) và những quan hệ đã có của nó với nhà cầm quyền. Motorola đã đƣợc phép hoạt động tại Nhật Bản và cũng có tần số cho hệ thống thông tin di động của nó.

Chia sẻ rủi ro: chia sẻ rủi ro là một lí do phổ biến cho việc tiến hành các thỏa thuận hợp tác – khi một thị trƣờng chƣa mở cửa, hay có sự không chắc chắn và mất ổn định thì chia sẻ rủi ro trở nên cực kỳ quan trọng. Tính chất cạnh tranh của kinh doanh gây khó khăn cho một doanh nghiệp thâm nhập vào một thị trƣờng mới, hoặc tung ra sản phẩm mới và việc thiết lập những liên minh chiến lƣợc là một cách để giảm thiểu và kiểm soát rủi ro.

Trong trƣờng hợp CFM International2, một liên minh (hình thức liên doanh 50-50) giữa General Electric và Snecma đã phát triển và sản xuất một dòng động cơ phản lực mới. Hơn 10 năm nghiên cứu và hơn 2 tỉ USD đã đƣợc chi ra chỉ để bán đƣợc chiến động cơ đầu tiên. Với dự án đầy rủi ro này thì liên minh chiến lƣợc là một sự lựa chọn khôn ngoan.

Công ty hoạt động trong lĩnh vực hàng không đƣợc thành lập năm 1974 với sản phẩm chính là động cơ turbine phản lực

Chia sẻ kiến thức và chuyên môn: Hấu hết các công ty đều có khả năng giới hạn trong một số lĩnh vực và thiếu chuyên môn trong những lĩnh vực khác; nhƣ vậy, tạo thành một liên minh chiến lƣợc có thể sẵn sàng để cho phép họ có đƣợc những kiến thức và chuyên môn trong một khu vực mà một công ty thiếu. Những thông tin, kiến thức và chuyên môn mà một công ty đạt đƣợc, có thể sử dụng không chỉ trong các dự án liên doanhmà còn với các mục đích, các dự án khác. Các chuyên môn và kiến thức có thể bao gồm từ việc học để đối phó với quy định của chính phủ, kiến thức sản xuất, hoặc học cách để tận dụng các nguồn lực.

Trong liên minh “information gateway” giữa General Instruments – Microsoft – Intel, GE chia sẻ những kinh nghiệm về bộ chuyển đổi tín hiệu; Microsoft đóng góp những kiến thức về phần mềm và Intel với bộ vi xử lí của nó. Các bên tham gia liên minh chia sẻ những thế mạnh của mình qua đó cũng học hỏi đƣợc những phần mà mình còn thiếu sót.

Hợp lực nâng cao vị thế cạnh tranh: tăng cƣờng lợi thế cạnh tranh nhờ sự đồng thuận hợp lực từ các đối tác liên minh có thể là một lí do khác giải thích tại sao các công ty tham gia liên minh chiến lƣợc. So sánh với sự thâm nhập thị trƣờng một mình, thiết lập một liên minh chiến lƣợc trờ thành một cách để giảm thiểu rủi ro, mở rộng quy mô toàn cầu, nghiên cứu và phát triển,… Khi các đối tác góp thế mạnh của mình mang lại sức mạnh tổng hợp vào trong việc phát triển thị trƣờng, sản phẩm, họ tạo ra một lợi thế cạnh tranh lớn mà khi đứng một mình khó có thể có đƣợc.

Ở lĩnh vực sản xuất thiết bị hạng nặng, cả Clark Equipment và Volvo3 đều không có đủ số lƣợng sản xuất để cạnh tranh lại với 2 nhà sản xuất hàng đầu thế giới là Caterpillar và Komatsu4. Vào giữa thập niên 80, họ quyết định thành lập liên minh. Rõ rang, khi đứng riêng rẽ thì cả hai công ty Clark Equipment và Volvo đều không thể cạnh tranh lại với 2 “đại gia” kia, nhƣng khi hình thành liên minh thì họ cũng là mội đối trọng đáng kể.

Vào đầu những năm 90, Boeing, General Dynamics, Lockeed đã liên kết các sức mạnh của nhau để thắng một cuộc đấu giá của Lầu Năm Góc cho việc xây dựng một tàu khu trục

3 Clark Equipment đƣợc thành lập năm 1903 tại Chicago, Mỹ còn Volvo là công ty Thụy Sỹ đƣợc thành lập năm 1927. Cả hai công ty đều hoạt động trong lĩnh vực thiết kế và sản xuất những thiết bi hạng nặng nhƣ xe tải nặng và các máy móc trong xây dựng…

4 Caterpillar, công ty của Mỹ thành lập năm 1925 và Komatsu, công ty của Nhật thành lập năm 1917 là hai công ty hàng đầu trong lĩnh vực cung cấp xe và thiết bị hạng nặng chiến đấu. Đó là hợp đồng lớn nhất đƣợc cấp bởi chính phủ Mỹ từ trƣớc cho đến thời điểm đó (tiêu tốn 5 tỉ USD mỗi năm).

Thiết lập một chuẩn mực toàn cầu: tham gia vào liên minh chiến lƣợc có thể là cách tốt nhất để thiết lập những chuẩn mực công nghệ, sản phẩm qua đó giúp hạ giá thành sản xuất nhờ áp dụng quy chuẩn thống nhất, loại trừ những đối thủ cạnh tranh trực tiếp.

Tập đoàn Phillip vào cuối thập kỷ 80, thực tế đả hoàn toàn bị đẩy ra khỏi thị trƣờng đầu máy video băng từ (VRC) khi không theo kịp các chuẩn mực mà các nhà sản xuất Nhật bản đã thiết. Để tránh mắc phải sai lầm đó lần nữa, Phillip đã thiết lập hàng loạt liên minh với các công ty Nhật để đảm bảo sự tƣơng thích về công nghệ giữa Nhật Bản và Châu Âu.

1.3 Một số trở ngại khi hình thành liên minh

Tuy rằng liên minh là dựa trên cơ sở tự nguyện và mỗi bên có quyền tự chủ của mình nhƣng trong một số trƣờng hợp, nhất là trong liên doanh, hoặc do vốn góp không đều, hoặc do nguồn lực lớn mạnh của một số công ty áp đảo phần còn lại sẽ tạo nên sự mất cân bằng về quản lí và chia sẻ lợi ích từ liên minh.

Liên minh nghĩa là các bên phải hợp tác và trao đổi nguồn lực cho nhau, từ đó sẽ nảy sinh vấn đề là những bí quyết công nghệ sẽ khó đƣợc bảo vệ. Trƣờng hợp xủa Xerox, những ngƣời phát minh và đi đầu trong việc sản xuất máy photocopy, sau thời gian liên doanh với các công ty Nhật thì những công nghệ trong ngành photocopy đã phát triển ở Nhật hơn là tại Mỹ, chính quốc của Xerox.

Vấn đề hội nhập trong liên minh cũng là vấn đề đáng quan tâm. Sau thời gian xâm nhập thị trƣờng và xác lập một số lợi thế, các công ty thƣờng có xu hƣớng mua bán hoặc sát nhập với đối tác của mình nhằm tăng quyền kiểm soát và lợi nhuận. Tại Việt Nam thì, bài học về liên doanh Cocacola Việt Nam là một ví dụ điển hình.

Nhƣ vậy, liên minh chiến lƣợc ngoài những lợi ích căn bản nó còn nhiều những nguy cơ và rủi ro đến từ nhiều phía. Để có đƣợc một liên minh thành công thì cần phải hội đủ rất nhiều yếu tố.