LOI THE SO SANH - D.Ricardo

8.6K 0 0

b. Quy luật lợi thế so sánh của David Ricardo:

1. Trong thời đại D. Ricardo ngoại thương đóng vai trò quan trọng. Học thuyết lợi thế so sánh của ông nghiên cứu sự trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia, dựa trên nền móng là học thuyết về giá trị lao động.

Các chi phí để sản xuất sản phẩm được quy về hao phí lao động, và chuyên môn hóa trong việc sản xuất các loại hàng hóa. Vì vậy, theo ông phải tính được lợi thế của sự so sánh. Theo nguyên tắc này mỗi nước chỉ nên tập trung vào sản xuất một loại hàng hóa nào dựa trên thế mạnh của mình.

2. Lý thuyết LTSS của R cho rằng ngoại thương có lợi cho mọi quốc gia miễn là xác định đúng lợi thế so sánh, tức là tạo ra phân công lao động giữa các nước. LTSS xuất hiện khi đối chiếu so sánh hao phí lao động cho mỗi đơn vị sản phẩm ít nhất 2 quốc gia. Muốn xác định LTSS ta phải xác lập lợi thế tuyệt đối.

3. Lợi thế tuyệt đối là khi tách ra xem xét một mặt hàng sản phẩm nào đó giữa vùng này với vùng khác, nước này với nước khác. Lợi thế tuyệt đối xuất hiện khi mặt hàng này nước này sản xuất được mà trước kia không sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng với chi phí cao hơn nhiều. Điều này xảy ra là do điều kiện tự nhiên giữa các quốc gia khác nhau, trình độ khác nhau, hàng từ nơi có lợi thế sang nơi không có lợi thế như là một yếu tố khách quan là cơ sở sâu xa trong quan hệ ngoại thương.

4. Xác lập lợi thế tuyệt đối có nghĩa là hình thành tỷ lệ so sánh về hao phí lao động cho mỗi loại sản phẩm giữa các nước, so sánh các tỷ lệ được thiết lập. Các mặt hàng có tỷ lệ càng nhỏ thì được xem là có lợi thế và ngược lại. Các mặt hàng có lợi thế thì tăng cường sản xuất, các mặt hàng không có lợi thế nên hạn chế sản xuất mà nên nhập khẩu.

5. Trong quan hệ kinh tế quốc tế, mỗi nước đều ra sức sử dụng các lợi thế tuyệt đối của mình để chế ngự lợi thế tuyệt đối của đối phương, tìm ra sự công bằng chung.

6. Vấn đề đặt ra là nếu một nước hoàn toàn có lợi thế tuyệt đối và nước kia thì không. Có nên thiết lập quan hệ thương mại giữa hai nước trên không? D. Ricardo cho rằng ngay cả trong những trường hợp như vậy thì ngoại thương vẫn có lợi cho cả hai bên miễn là phải dựa trên cơ sở lợi thế so sánh, nghĩa là mọi quốc gia phải xác định được sử dụng lợi thế so sánh của mình.

7. LTSS xã hội được xác lập khi đặt tất cả các sản phẩm để so sánh lẫn nhau về chi phí sản xuất tương đối. Chi phí sản xuất tương đối chính là tỷ số so sánh hao phí lao động của mỗi mặt hàng giữa hai nước.

VD: Chi phí lao động cho hai mặt hàng: quần áo và thực phẩm ở Mỹ và Châu Âu được cho bởi bảng sau:

Mặt hàng Mỹ Châu Âu

Thực phẩm 1 3

Quần áo 2 4

Lợi thế so sánh của Châu Âu

Lợi thế tuyệt đối:

Thực phẩm: 3/1>1

Quần áo: 4/2 = 2/1>1

cả hai mặt hàng thì Châu Âu đều không có lợi htế tuyệt đối

Lợi thế so sánh : 3/1 (thực phẩm) > 2/1 (quần áo)

Theo nguyên tắc so sánh thì Châu Âu có lợi thế so sánh ở sản phẩm quần áo (cái yếu ít nhất trong các cái yếu)

Nếu có hoạt động giữa Mỹ và Châu Âu:

Châu Âu sẽ sản xuất và xuất khẩu quần áo cho Mỹ và nhập khẩu thực phẩm từ Mỹ. Giá một đơn vị quần áo ở Châu Âu là 4, xuất khẩu sang Mỹ với giá bằng 6 thì Châu âu sẽ lời -2

Khi nhập thực phẩm, bán 2. Nhập khẩu số lượng thực phẩm đổi được 2:1 = 2 đơn vị sản phẩm. Để có 2 đơn vị sp Châu Âu phải tốn 2x3=6. Qua hoạt động nhập khẩu thực phẩm Châu Âu lời -2+6=4

Chung quy lại họat động ngoại thương Châu Âu lời -2+4 = 2 (vẫn lời mặc dù không lợi thế tuyệt đối cả hai mặt hàng quần áo và thực phẩm)

Giả sử tổng đơn vị hao phí lao động mỗi nước là 600. Phân công lao động:

Mỹ: Thực phẩm

Châu Âu: quần áo

Khi chưa có ngoại thương:

Mỹ: Nhịn ăn để mặc áo quần: 600/2 = 300

Nhịn mặc để ăn: thực phẩm: 600/1 = 600

Châu Âu: Nhịn ăn để mặc áo quần: 600/4 = 150

Nhịn mặc để ăn thực phẩm: 600/3 = 200

Qua hoạt động ngoại thương:

Thực phẩm Châu Âu: (150 x 2)/1 = 300 (>200 ban đầu)

Số quần áo Mỹ: (600 x 3)/4 = 450 (>300 ban đầu)

Ý nghĩa trong việc xây dựng cơ chế kinh tế mở đối với Việt Nam:

Phân công lao động quốc tế có hoạt động ngoại thương đã đem lại lợi ích cho tất cả các quốc gia nghĩa là với năng lực sản xuất không đổi nó làm cho tổng sản phẩm tăng lên, thu nhập thực tế của xã hội nói chung, của mỗi thành viên nói riêng cũng tăng lên. Tự do thương mại quốc tế là tốt và có lợi.

Trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay thì hoạt động ngoại thương không thể thiếu. Mở cửa làm ăn buôn bán với các nước có ý nghĩa thiết thực, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Chúng ta phải xác định rõ đâu là mặt hàng có lợi thế của mình để mà tăng cường sản xuất, xuất khẩu, lấy tiền mang về những thứ mà chúng ta chưa có khả năng sản xuất hay không có lợi thế. Tránh xuất khẩu những mặt hàng mà chúng ta đang thiếu và nhập về những thứ mà chúng ta không cần thiết. Xuất nhập khẩu phải rõ ràng, có chọn lọc. Huấn luyện nhân sự, đào tạo những cán bộ giỏi trong lĩnh vực ngoại thương có trình độ quốc tế. Hợp đồng ngoại thương cần phải rõ ràng, chính xác để sau này tranh chấp xảy ra thì có chứng cớ mà giải quyết, hoạt động ngoại thương hướng vào tất cả các quốc gia có chế độ chính trị khác nhau, không phân biệt với mục đích chính là phát triển kinh tế.