cau hoi va tra loi

939 1 0

Xoắn1: phòng chống chiến lược diễn biến hòa bình bạo loạn lật đổ..
1. Tại sao Đảng ta cho rằng diễn biến hòa bình là 1 trong những nguy cơ của CM nước ta hiện nay. trách nhiệm của sinh viên là gì để đẩy lui nguy cơ đó.
Diễn biến hòa bình chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế, được thực hiện dưới một phương thức, thủ đoạn mới để chống phá, đẩy lùi và đi đến xoá bỏ chủ nghĩa xã hội. Đối tượng của chiến lược Diễn biến hòa bình là các nước có khuynh hướng phát triển phi tư bản chủ nghĩa. Bản chất của chiến lược DBHB là chống chủ nghĩa xã hội. Nội dung cơ bản là phá hoại các nước xã hội chủ nghĩa về các mặt chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hoá, xã hội, v.v... Phương thức và thủ đoạn chủ yếu là tạo dựng và thúc đẩy những nhân tố phản động, chống đối từ bên trong, đẩy đối phương vào khủng hoảng toàn diện, từng bước chuyển hoá chế độ chính trị theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa hoặc bị chính các thế lực chống đối dùng bạo lực lật đổ.
Diễn biến hòa bình được tiến hành thường là tổng hợp nhiều biện pháp buộc đối phương trong cùng một lúc phải đối phó với nhiều thế lực, nhiều hoạt động chống đối, thúc đẩy cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội thành khủng hoảng chính trị, tạo ra tình thế bạo loạn lật đổ chế độ.
• Về hệ tư tưởng: Dùng nhiều kế hoạch và phương tiện, tuyên truyền, phủ định, xóa bỏ chủ nghĩa Marx Lenin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như những nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, từng bước thay thế chủ nghĩa Marx Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh bằng ý thức hệ tư bản chủ nghĩa.
• Về định hướng phát triển: Xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Tạo áp lực và gây sức ép buộc Việt Nam quay trở lại chủ nghĩa tư bản.
• Về thể chế pháp luật: Đòi xóa bỏ Điều 4 của Hiến pháp, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện đa nguyên, đa đảng. [5]
• Xóa bỏ chủ nghĩa Marx Lenin để thay thế bằng hệ tư tưởng tư sản trong các nước xã hội chủ nghĩa.
• Xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập trong các nước xã hội chủ nghĩa. Lý luận được sử dụng thường xuyên là Đảng Cộng sản độc quyền lãnh đạo là "độc tài", là "bóp nghẹt dân chủ", vì thế phải thay thế bằng chế độ chính trị đa đảng. Từ đó, tìm mọi cách nhen nhóm các lực lượng phản động chống đối, cơ hội chính trị trong các nước này.
• Gây bất ổn chính trị trong các nước xã hội chủ nghĩa. Cách thường xuyên được sử dụng là lợi dụng, kích động những vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", "dân tộc", "tôn giáo" để gây mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có thời cơ lôi kéo một bộ phận quần chúng vào các cuộc hỗn loạn chính trị.
• Làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi phối, lũng đoạn, khống chế kinh tế.
• Chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo quỹ đạo và các giá trị phương Tây, từ đó dẫn tới biến chất xã hội.
• "Phi chính trị hóa" để vô hiệu hóa quân đội và công an. Tách rời quyền lãnh đạo của Đảng ra khỏi quân đội và công an, để dễ bề kích động đảo chính, bất ổn chính trị, quân sự.
Chủ nghĩa đế quốc sử dụng nhiều biện pháp để chống chính phủ Việt Nam trên một số lĩnh vực:
• Phối hợp đồng bộ giữa bên ngoài và bên trong. Khai thác những người bất mãn, chống đối trong nước, nhất là một số trí thức và cán bộ biến chất, những người cơ hội chính trị. Xuyên tạc và phủ định chủ nghĩa Marx Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh với chiến thuật dùng chính cộng sản chống lại và phản bác chủ nghĩa cộng sản.
• Dùng tâm lý chiến, lặp lại những lý luận cũ như "chủ nghĩa Marx đã lỗi thời", "kinh tế thị trường định hướng XHCN đang bế tắc" v.v., để gây nhiễu thông tin, gây hoang mang, làm giảm niềm tin của người dân trước thềm Đại hội Đảng.
• Huy động và sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả phương thức truyền miệng cổ điển. Lợi dụng những yếu kém, bất cập của chính Việt Nam, nhưng được nhào nặn, thổi phồng, với dụng ý chống phá. Phủ định những thành tựu của Đổi mới, tuyên truyền xuyên tạc nhằm bôi đen chế độ XHCN tại Việt Nam.
• Sử dụng những người cơ hội, phản Đảng. Tách Đảng ra khỏi dân, đối lập Đảng với dân. Thổi phồng khuyết điểm, yếu kém của chính những phần tử cơ hội, quan liêu, tham nhũng rồi quy kết Đảng, đánh đồng kẻ xấu với người tốt. [5]
Sinh viên, với trách nhiệm đầy đủ và khả năng trình độ nhận thức của mình, tích cực tham gia vào các hoạt động thiết thực ở nhà trường, từng địa phương để góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đỗ của kẻ địch. Trước hết mỗi người luôn nâng cao cảnh giác, tự bảo vệ mình, bảo vệ những tổ chức mà mình tham gia sinh hoạt. Luôn chủ động giải quyết tết mối quan hệ giữa cá nhân, nhà trường và xã hội.Tuyên truyền mọi người luôn nâng cao cảnh giác trước những âm mưu của địch.

Xoắn 3: xây dựng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biên giới
trình bày quan điểm của đảng nước ta về xây dựng và bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia.
- Xây dựng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là một nội dung quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Lãnh thổ và biên giới quốc gia Việt Nam là một bộ phận hợp thành quan trọng, không thể tách rời của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Lãnh thổ và biên giới quốc gia là yếu tố cơ bản bảo đảm cho sự ổn định, bền chắc của đất nước Việt Nam. CHủ quyền lãnh thổ Việt Nam là khẳng định chủ quyền của Nhà nước Việt Nam, bao gồm cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong phạm vi lãnh thổ, gồm cả vùng đất, vùng trời, nội thuỷ, lãnh hải và lãnh thổ đặc biệt của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không thể thành công nếu chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia không được xây dựng và bảo vệ tốt, bị xâm phạm.
- Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam
Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là kết quả đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam suốt chiều dài hàng ngàn năm lịch sử. Người Việt Nam luôn phất cao hào khí anh hùng, lòng tự hào, tự tôn dân tộc trong dựng nước và giữ nước, xây dựng và gìn giữ biên cương, lãnh thổ quốc gia, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt Nam là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam. Nhà nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam quyết tâm giữ gìn và bảo vệ quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm đó
- Xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định; giải quyết các vấn đề tranh chấp thông qua đàm phán hoà bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích chính đáng của nhau
Đây là quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Quan điểm này phù hợp với luật pháp và lợi ích của Việt Nam, phù hợp với công ước và luật pháp quốc tế, cũng như các lợi ích của các quốc gia có liên quan
Trong giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ, biên giới, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán thực hiện quan điểm giải quyết các tranh chấp bằng thương lượng hoà bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích chính đáng của nhau
Về vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, quan điểm nhất quán của Việt Nam là: Việt Nam khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi đối với vùng biển, đảo của Việt Nam trên biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lí về vấn đề này. Tuy nhiên, vì lợi ích an ninh chung của các bên hữu quan, Việt Nam sẵn sàng đàm phán hoà bình để giải quyết, trước mắt là đạt tới sự thoả thuận vê “Bộ qui tắc ứng xử” trong khi tiếp tục tìm kiếm giải pháp lâu dài cho vấn đề Biển Đông
- Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là sự nghiệp của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lí thống nhất của Nhà nước, lực lượng vũ trang là nòng cốt
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhà nước thống nhất quản lí việc xây dựng, quản lí, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có nhiệm vụ tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước
Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong nhiệm vụ bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia. Bộ đội biên phòng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách, phối hợp với lực lượng công an nhân dân, các ngành hữu quan và chính quyền địa phương trong hoạt động quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới theo qui định của pháp luật
liên hệ bản thân
+ Không ngừng học tập, nâng cao trình độ nhận thức về mọi mặt, hiểu biết sâu sắc về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc, truyền thống đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam; từ đó củng cố lòng yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý chí tự chủ, tự lập, tự cường, nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
+ Thấy rõ ý nghĩa thiêng liêng cao quí và bất khả xâm phạm về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xác định rõ vinh dự và trách nhiệm của công dân trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia
+ Thực hiện tốt về chương trình môn học Giáo dục quốc phòng – an ninh; hoàn thành tốt các nhiệm vụ quốc phòng, quân sự tại trường
+ Sau khi tốt nghiệp, sẵn sàng tự nguyện tham gia quân đội nhân dân, công an nhân dân khi Nhà nước yêu cầu. Tình nguyện tham gia xây dựng và phục vụ lâu dài tại các khu kinh tế - quốc phòng, góp phần xây dựng khu vực biên giới hải đảo vững mạnh, phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.


- Nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia bao gồm:
+ Bảo vệ chế độ chính trị và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc
+ Bảo vệ an ninh về tư tưởng và văn hoá, khối đại đoàn kết dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
+ Bảo vệ an ninh trong lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia
+ Bảo vệ bí mật nhà nước và các mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia
+ Phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại và loại trừ các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, nguy cơ đe doạ an ninh quốc gia