Phap Xam luoc Viet Nam

Bắt đầu từ đầu

Thời Tự Đức còn cho đặt thêm ngạch hương dũng, dân dũng, thổ dũng ở các tỉnh, huyện, xã, nhất là các tỉnh miền núi. Thực ra, từ năm 1812 (triều Gia Long), khi cần thiết triều đình đã có lệnh trưng hương binh, nhưng đến thời Tự Đức thì trở thành quy chế chung, áp dụng thường xuyên cho cả nước.

Nói tóm lại, quân đội thời Nguyễn rất đông, hùng hậu nhưng lại chỉ chủ yếu được huấn luyện để đi trấn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân, dập tắt những phong trào đấu tranh của dân chúng chứ không huấn luyện nhiều để chiến đấu trên chiến trường chính quy. Thêm vào đó, tàu chiến ít, lực lượng lính thủy lại không chuyên nghiệp, hầu hết là tay ngang, không chịu được sóng gió trên biển. Binh khí thì thô sơ, chủ yếu là dao, gươm, đại bác và súng trường có ít và lại rất lạc hậu.

+ Về chính trị - xã hội

Các vua nhà Nguyễn từ Gia Long đến Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức chỉ ra sức tăng cường chế độ quân chủ chuyên chế nhằm duy trì quyền thống trị lâu dài của dòng họ. Nhà nước phong kiến thời Nguyễn mang nặng tính bảo thủ, lo ngại đổi mới, gạt bỏ nhiều đề nghị cải cách của một số quan lại và sỹ phu.

Nổi bật nhất trong xã hội lúc này là nạn chiếm đoạt và tập trung ruộng đất của địa chủ, nạn tham nhũng của quan lại, cường hào. Thêm vào đó là các chế độ tô thuế và lao dịch nhiều khi trở thành gánh nặng khắc nghiệt đối với thần dân

Nông dân thời Nguyễn vẫn nộp tô thuế ruộng đất bằng hiện vật, nhưng gặp năm mất mùa không đủ lúa đóng thuế thì nhà nước muốn tránh thất thu đã cho nộp thay bằng tiền (gọi là “đại nạp”), và thực tế đã đẩy nông dân vào cảnh bần cùng.

Lê Văn Duyệt đã từng than: “Lệ thuế hơi nặng, dân lấy làm khổ”; một thừa sai người Pháp (Guérard) nhận xét: “Vua Gia Long bóp nặn dân chúng bằng đủ mọi cách, sự bất công và lộng hành làm cho người ta rên xiết hơn cả ở thời Tây Sơn; thuế má và lao dịch thì tăng lên gấp ba”v.v…

Riêng về chế độ lao dịch một số người nước ngoài chứng kiến tận mắt cảnh tượng xây thành đắp lũy, đào kênh.. ở thời Nguyễn - đặc biệt việc xây thành Phú Xuân và đào kênh Vĩnh Tế - đều tỏ ra ngạc nhiên trước cường độ lao động căng thẳng của hàng ngàn hàng vạn dân phu.

Mô tả việc xây thành Phú Xuân (Huế), một người Pháp là Borel viết năm 1818: “nhà vua sử dụng tất cả nhân lực vào việc xây tòa thành và các công trình công cộng khác. Khi tôi đến Huế, đã có đến 8 vạn người được điều động từ các nơi trong cả nước đang khẩn trương xây dựng một tòa thành rộng lớn bằng gạch. Một người Anh cho biết thêm: “từng đoàn dài dân thợ đang chuyên chở vật liệu… Những đống gạch đá, những xưởng rèn, những lán trại… tất cả tạo thành một cảnh tượng rất khó hình dung nếu không được chứng kiến tận mắt. Tiếng búa đập, tiếng kêu la của cả một đội quân dân phu khổng lồ ấy gây thành một thứ tiếng ồn ào nhức óc; nhưng tất cả vẫn cặm cụi làm việc, chẳng ai dám nghỉ tay”.

“Riêng việc xây bờ thành đã tốn kém những khoản tiền khổng lồ và làm thiệt hàng ngàn nhân mạng vì phải khổ dịch liên tục”. Ở một đoạn khác: “nhà vua [Gia Long] đã vung ra những món tiền lớn và hy sinh tính mạng của hàng ngàn dân chúng vì họ phải làm việc không nghỉ tay trên các tường lũy của kinh thành. Đây quả là một công trình kỳ diệu. Mười vạn người được thường xuyên huy động…”

Phap Xam luoc Viet NamĐọc truyện này MIỄN PHÍ!