Chương 6: Các tổ chức tài chính trung gian

5.3K 4 0

Chương 6: Các tổ chức tài chính trung gian

Câu1:  CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH TRUNG GIAN (Intermediary financial institution)

1. Khái niệm

Các chủ thể trong nền kinh tế bao gồm các tổ chức tài chính và phi tài chính. Tổ chức phi tài chính là các tổ chức sản xuất sản phẩm (xe, máy tính,mỹ phẩm, ...) hoặc cung cấp các dịch vụ phi tài chính (vận tải, du lịch, các dịch vụ công cộngkhác,...). Các tổ chức tài chính hay chúng ta thường gọi là các tổ chức tài chính trung gian, là các tổ chức có cung cấp một (hoặc nhiều) trong số các dịch vụ sau:

1. Huy động các nguồn tài chính từ những người có vốn để cho những người cần vốn vay

2. Làm môi giới mua bán tài sản tài chính theo sự uỷ quyền của khách hàng

3. Mua bán tài sản tài chính để kiếm lời cho chính công ty mình

4. Tham gia vào hoạt động đầu tư tài sản tài chính cho nhà đầu tư và sau đó bán chúng trên thị trường để kiếm lợi cho nhà đầu tư

5. Cung cấp các dịch vụ tư vấn cho nhà đầu tư

6. Quản lý danh mục đầu tư cho nhà đầu tư

2. Các loại hình định chế tài chính trung gian chủ yếu

2.1 Các tổ chức nhận ký gửi

      Các tổ chức nhận ký gửi bao gồm các ngân hàng thương mại, các hợp tác xã tín dụng. Các tổ chức này có đặc điểm chung là nhận tiền gửi và sau đó đem cho vay trực tiếp tới các cá nhân, tổ chức cần vốn và một phần khác đem đầu tư vào chứng khoán. Như vậy, thu nhập của tổ chức này có được từ 2 nguồn: thu nhập từ tiền lãi cho vay và đầu tư chứng khoán; thu nhập từ các khoản phí dịch vụ.

2.2 Các công ty bảo hiểm (Insurances Companies)

     Công ty bảo hiểm có chức năng chủ yếu là cung cấp phương tiện để bảo vệ các hộ gia đình hoặc các hãng kinh doanh trước những tổn thất về tài chính do những rủi ronhất định gây ra thông qua việc cung cấp các hợp đồng bảo hiểm cam kết sẽ bồi thường cho người mua một khoản tiền nhất định trong trường hợp xảy ra rủi ro.

      Các rủi ro được bảo hiểm bao gồm các tai nạn, mất trộm, cháy (bảo hiểm tài sản và tai nạn), ốm đau, mất khả năng làm việc (bảo hiểm sức khoẻ và thương tật), chết (bảohiểm nhân thọ).

      Các công ty bảo hiểm thu phí bảo hiểm (premiums) để thành lập nên quỹ bảo hiểm phục vụ cho mục đích bồi thường. Do hầu hết các khoản phí bảo hiểm đều được thu hết trước khi bồi thường nên công ty bảo hiểm có một khoảng thời gian từ dưới 1 năm cho tới hàng chục năm để sử dụng quỹ bảo hiểm. Tiền trong quỹ bảo hiểm khi chưa dung để bồi thường sẽ được đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản hoặc thực hiện các hoạt động đầu tư tài chính khác như góp vốn liên doanh, thành lập công ty chứng khoán,cung cấp các khoản tín dụng trực tiếp...

2.3. Các công ty tài chính (Finance companies)

       Các trung gian tài chính này huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu, hay thương phiếu. Các công ty tài chính cung ứng chủ yếu các loại tín dụng trung hạn và dài hạn, ví dụ cho người tiêu dùng vay tiền để mua sắm đồ đạc, xe hơi, tu bổ nhà hoặc cho các doanh nghiệp nhỏ vay. Ngoài ra, các công ty tài chính còn thực hiện các dịch vụ cầm, giữ hộ và quản lý các chứng khoán, các kim loại quí .v.v...

           Nếu như hoạt động của các ngân hàng thương mại chủ yếu là tập hợp các khoản tiền gửi nhỏ để cho vay các khoản tiền lớn, thì các công ty tài chính lại huy động những khoản tiền lớn rồi chia ra để cho vay những khoản nhỏ. Một điểm khác biệt nữa là công ty tài chính không được huy động các dạng tiền gửi như như ngân hàng thương mại cũng như không được thực hiện các dịch vụ thanh toán.

2.4. Các công ty chứng khoán:

- Môi giới CK cho k/h để hưởng hoa hồng

- Mua bán CK bằng nguồn vốn của chính mình để hưởng chênh lệch giá

- Trung gian phát hành,bảo lãnh phát hành CK cho các đơn vị phát hành CK

- Tư vấn đầu tư và quản lý vốn đầu tư.

3. Chức năng

3.1. Chức năng tạo vốn

- Để có thể cho vay hoặc đầu tư thì các TGTC tiến hành huy động nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền KTQD hình thành quỹ tiền tệ tập trung hay còn gọi là quỹ cho vay.

- Phương thức huy động vốn hoặc là theo thể thức tự nguyện thông qua cơ chế lãi suất hoặc là theo thể thức bắt buộc tức là thông qua các quyết định của chính phủ.

- Với c/n này, TGTC đem lại lợi ích cho chính mình và cho phần lớn những ng có khoản tiền tài chính để dành.

3.2. Chức năng cung ứng vốn

- Tiền vốn được huy động từ những ng có vốn là để thực hiện mục tiêu cung ứng vốn cho những ng cần nó

- Trong nền ktế thị trường ng cần vốn: DN,CP, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.

- Vs c/n này, các t/chức TGTC đáp ứng được đầy đủ và kịp thời nhu cầu cho các DN và cá nhân

3.2. Chức năng kiểm soát

- Các TGTC thực hiện c/n này nhằm giảm tới mức tối thiểu vđề lựa chọn đối nghịch và vđề rủi ro đạo đức do thông tin ko cân xứng gây ra.

- C/n này đòi hỏi các TGTC phải thường xuyên hoặc định kỳ ktra trước, trong, sau khi cho vay nhằm hạn chế đến mức có thể.