Gió lộng, luồn giữa đồng lau trắng xóa vi vu về bên tai. Rơm cỏ khô vỡ giòn dưới bước chân. Những thân lau trước mắt rõ ràng dần, có mềm oặt, có gãy đổ, có ngả nghiêng theo bàn tay lần dẹt ra. Ấy là một lối mòn không cỏ và lầy lội dẫn đến bờ sông sương mờ. Giữa nước trời đùng đục xám như sau buổi mưa sớm tháng bảy, trên dòng dằng dặc chảy hiện ra một bóng thuyền đi xuôi. Người trên thuyền ngồi ở đầu mui, khua nhẹ tay chèo, vừa chèo vừa hát.
Người hát gì, không ai biết. Tiếng hát cũng như con thuyền đó, thoáng trên dòng đầy sương mù rồi nhỏ dần, mất hút trong trời đất đầy lau xám tro.
Gió lại vi vu. Đồng không heo hút. Đất trời như mênh mang nước mắt khi người con gái nọ hờ hững gọi hai tiếng "đò ơi".
...
Tôi ngồi ngay ngắn trước gương để Đào giúp mình chải tóc. Sớm nào chúng tôi cũng chải mái tóc đen dài như thác đêm đổ như thể nghi thức, rồi vấn vào khăn để chỏm đuôi gà. Nhưng sớm nay chải xong Đào chỉ xếp khăn làm hai, làm ba theo chiều dọc, buộc hờ trên đầu. Chiếc khăn màu ngọc bích không biết nhuốm hương hoa gì nằm yên trên đỉnh đầu tôi, mà mái tóc sau lưng vẫn buông dài, trông đến ngồ ngộ. Tôi hỏi, Đào vừa chỉnh vén tóc mai vừa thưa:
- Một kiểu vấn thịnh ở Trung kỳ, trông trẻ hẳn cô ạ.
Tôi "ừ" nhưng không lấy làm ưng, toan bảo Đào vấn tóc như thường ngày thì trước sân thày đã sai người đến giục. Hội quần ẩm của làng đã đủ mặt, chỉ chờ hết một tuần chè là bắt đầu thả thơ. Trò này thày tôi bảo học từ Trung kỳ, cũng rặt đỏ đen nhưng hay hơn bầu cua, xúc xắc ở chỗ người ta được khoe sự học của mình ra. Thế nên hễ muốn thả thơ thày tôi phải đánh tiếng trước ít nhất nửa tháng để người ta đọc lại hết sách vở.
Nửa tháng ấy nhà kẻ cầm cái là nhọc nhất. Thày tôi chẳng những phải ôn thơ mà còn phải rọc giấy, lựa câu ra đề cho tôi chép. Tôi thì chép mòn tay, hao giấy, mực dây cả đầu.
Vậy nên lúc thày bày cách thả thơ tôi đã bĩu môi lắc đầu. Nhàm thì không nhàm nhưng nhọc quá, mà nhọc thế chỉ để khoe cái cao nhã ra, trong khi từ xưa người khiêm tốn mới thật là nhã nhặn.
Lúc tôi dẫn theo Đào ra đến, khách khứa của thày đã ngồi đầy trên chiếc chiếu cạp điều lớn. Tôi nhớ mặt thưa gửi từng người một, theo lời thày vào chuyên một tuần chè nữa mới đến chỗ cây đàn cầm [1] đã đặt sẵn trên hàng hiên. Cạnh đàn là kệ gỗ đỡ chiếc bình gốm thày tôi rất quý. Nghe đâu bình ấy truyền từ đời Trần, nước men hãy còn mới, mấy đoá hoa khắc trên xương gốm vẫn y nguyên. Trong bình cắm nhành hoa mơ đẹp nhất mà thày đích thân lên núi chọn cắt.
Để buổi thả thơ mồng sáu được "toàn bích" như lời thày nói, trên dưới nhà tôi đã bận rộn từ cuối tháng chạp sang đầu tháng giêng. Mới đêm trước tôi còn phải thức đến canh hai giúp thầy rọc giấy, chép thơ, đêm qua lại mơ thấy chuyện không đâu nên đầu váng lắm. Cây đàn trước mặt lúc rõ lúc nhoè. Mấy tiếng tôi gảy ra có lẽ không phải tiếng tơ như thày và các chú bác trông, nên cuộc thả thơ hơi trầm, thày tôi cũng liên tục bắt phải mấy câu buồn tê buồn tái mà thả.
Cuộc sát phạt giữa tao nhân mặc khách chỉ kết thúc khi trời xuân kéo mưa.
...
Tôi lấy quạt che đầu vụt chạy về phòng. Mưa không lớn, chỉ se se như sương mai, vẩy lên nhành hoa mơ bên cửa sổ phòng tôi mấy giọt li ti tựa bụi. Trên cao, trời vừa nãy còn quang đãng thoáng chốc đã xám xịt. Cái màu xám rười rượi buồn ấy y hệt trong giấc mơ của tôi, khi tôi đi mải miết ngoài đồng rồi gọi "Trương Chi".
BẠN ĐANG ĐỌC
[Làng Quê] TRONG TIẾNG HÁT TRƯƠNG CHI
Short Story"Tôi đã tìm Trương Chi hai năm, tìm đến mức không rõ tôi bên cạnh Trương Chi trong đò nằm mộng hay Trương Chi là giấc mộng của tôi. (...) Tôi vẫn một mực giày vò vì cho rằng phận lẻ duyên tơ, đến bây giờ mới bẽ bàng ngộ ra. Nhiều khi, Trương Chi là...
![[Làng Quê] TRONG TIẾNG HÁT TRƯƠNG CHI](https://img.wattpad.com/cover/278027676-64-k531587.jpg)