Previous Page of 10Next Page

LUẬT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ

spinner.gif

CHƯƠNG IV
LUẬT ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu chương IV sẽ cung cấp cho sinh viên những kiến thức chung liên quan đến điều ước quốc tế, đặc biệt là các giai đoạn của quá trình ký kết điều ước quốc tế trong quan hệ giữa các chủ thể luật quốc tế, làm nền tảng cho việc đối chiếu, so sánh và thấy được những sựu khác nhau cơ bản giữa việc hình thành pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.
Tài liệu tham khảo:
1. Giáo trình luật quốc tế
2. Hiến chương Liên Hợp Quốc
3. Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước quốc tế giữa các quốc gia
4. Công ước Viên năm 1986 về Luật điều ước quốc tế giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế hoặc giữa các tổ chức quốc tế
5. Luật ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam năm 2005

I. KHÁI NIỆM
1. Định nghĩa
- Điều ước quốc tế là văn bản ghi nhận thoả thuận của các chủ thể luật quốc tế và được luật quốc tế điều chỉnh, không phụ thuộc vào việc thoả thuận được ghi nhận trong một văn kiên duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau, cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của các văn kiện đó (Điểm a, Khoản1 Điều 2 Công ước Viên năm 1969)
3. Các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ ký kết và thực hiện điều ước quốc tế
Gồm 3 nguyên tắc sau:
a. Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng trong quá trình ký kết điều ước quốc tế
- Xuất phát từ đặc điểm cơ bản của luật quốc tế là không có các cơ quan lập pháp chuyên trách nên quá trình xây dựng luật quốc tế luôn được tiến hành bởi chính các chủ thể luật quốc tế. Đặc điểm này chi phối và có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình ký kết và thực hiện điều ước quốc tế theo hướng việc ký kết này sẽ hoàn toàn dựa trên cơ sở là ý chí  Như vậy, sự bình đẳng trong quan hệ[tự nguyện của các bên tham gia kết ước.  này trở thành căn cứ để đánh giá tính hợp pháp của một điều ước quốc tế.
- Điều 49 Công ước Viên 1969 ghi nhận "Nếu một quốc gia đi đến quyết định ký kết một điều ước do việc xử sự dối trá của một quốc gia tham gia đàm phàn khác, thì quốc gia đó có thể nêu lên sự man trá này như là khiếm khuyết của sự đồng ý của mình chịu sự ràng buộc của điều ước"; hay tại điều 52 " Mọi điều ước, mà việc ký kết đạt được bằng đe dọa hay sử dụng vũ lực trái với những nguyên tắc của pháp luật quốc tế...đều là vô hiệu". Như vậy, với những quy định trên đây của Công ước Viên 1969, thì những điều ước được ký kết mà có sự lừa dối, có sử dụng vũ lực hoặc ép buộc sẽ không có giá trị pháp lý.
 Đây là nguyên tắc có ý nghĩa[ tiên quyết, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi tham gia quan hệ điều ước, tránh mọi sự áp đặt mang tính quyền lực từ bên ngoài. Đồng thời, nguyên tắc này cũng đã hạn chế sự lạm quyền và tình trạng không bình đẳng trong quá trình vừa hợp tác, vừa cạnh tranh của các chủ thể luật quốc tế.
b. Nguyên tắc điều ước quốc tế phải có nội dung phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế
- Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế được xem là thước đo giá trị hợp pháp của các quy phạm pháp luật quốc tế. Do đó, mọi quy phạm pháp luật quốc tế dù tồn tại dưới hình thức thành văn hay bất thành văn đều phải có nội dung không trái với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế.
- Trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa

Previous Page of 10Next Page

Comments & Reviews (1)

Login or Facebook Sign in with Twitter


library_icon_grey.png Add share_icon_grey.png Share

Who's Reading

Recommended