Previous Page of 6Next Page

dan so hoc

spinner.gif

Chương 10

DÂN SỐ VIỆT NAM

I. TÌNH HÌNH GIA TĂNG

Việc thống kê dân số ở nước ta trong các triều đại phong kiến thường không chính xác. Nhìn chung, các triều đại phong kiến nắm dân số qua hệ thống quản lý hành chính từ tỉnh xuống huyện, phủ, tổng, xã, thôn theo số đinh (đàn ông từ 18 tuổi trở lên) để bắt lính, phu tạp dịch hoặc thu thuế. Sau ngày thống nhất đất nước (1975), dân số Việt Nam mới có được những số liệu khá chính xác thông qua các cuộc tổng điều tra dân số năm 1979, 1989, 1999.

Dân số nước ta tăng rất nhanh, từ 1926 đến 1965 tăng gấp hai lần trong thời gian 30 năm với số dân tăng thêm khoảng 16 triệu người. Từ năm 1960 tới 1985, chỉ trong 25 năm dân số lại tăng gấp đôi với số dân tăng thêm khoảng 30 triệu người. Thời gian dân số tăng gấp đôi ngày càng rút ngắn và số lượng tuyệt đối cũng tăng lên đáng kể. Theo kết quả tổng điều tra, dân số Việt Nam vào 0 giờ ngày 01-04-1999 là 76.324.753 người. Như vậy, trong 73 năm, từ năm 1926 đến 1999, dân số nước ta đã tăng thêm 60 triệu người.

Về quy mô, dân số nước ta đứng hàng thứ hai trong khu vực Đông Nam Á, đứng thứ 7 châu Á và thứ 12 trên thế giới trong tổng số 200 quốc gia và vùng lãnh thổ.

II. CƠ CẤU DÂN SỐ THEO GIỚI TÍNH VÀ TUỔI

Việt Nam có cơ cấu dân số trẻ. Quan sát tháp tuổi cho thấy đáy tháp rất rộng thể hiện số lượng trẻ em trong lớp tuổi 0-14 tuổi là rất lớn (năm 1979 chiếm 42,55%, năm 1989 chiếm 39,18% so với tổng dân số), trong khi đó, càng lên các lớp tuổi cao, đỉnh tháp thu hẹp dần thể hiện số người già trên 60 tuổi chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dân số (năm 1979 là 7,07% và năm 1989 là 7,17%).

Tháp tuổi dân số của nước ta 1979 và năm 1989 cho thấy hậu quả của các cuộc chiến tranh diễn ra trong suốt 35 năm, từ năm 1945 đến năm 1979. Ở bảy nhóm tuổi đầu tiên, tháp có hình dáng bình thường, nhưng bị thu hẹp lại nhiều bắt đầu từ tuổi 35 trở lên.

Với dân số trẻ như thế, nước ta cần phải có thêm ngân sách để đầu tư cho nhu cầu y tế, thuốc chữa bệnh, giáo dục và nuôi dạy trẻ. Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rằng, tỷ trọng những người trẻ tuổi trong dân số cao là do ta có mức sinh cao trong nhiều năm qua, nhưng khi mức sinh đã giảm như mấy năm gần đây, thì dân số nước ta dần dần trở nên già hơn. Khi đó sẽ xuất hiện thêm những nhu cầu đặc trưng của người già cần được đáp ứng.

Một đặc điểm đáng chú ý của dân số trẻ là có một số khá đông trẻ em và người già sống dựa vào người khác. Mối quan hệ này được gọi là tỷ lệ phụ thuộc tuổi. Tuy tỷ lệ phụ thuộc tuổi đã giảm đáng kể từ 90% năm 1979 xuống 78% năm 1989, nhưng vẫn còn cao.

Đồng thời, với cơ cấu dân số trẻ như hiện nay, số dân nước ta vẫn còn tăng trong những năm tới vì lớp trẻ đông đảo hôm nay sẽ trưởng thành và sinh con đẻ cái trong tương lai.

Dân số thành thị có cơ cấu tuổi không giống với dân số nông thôn. Theo cuộc tổng điều tra dân số 1989, tỷ trọng trẻ em dưới 15 tuổi của khu vực thành thị là 34% nhưng ở nông thôn lên tới 41%. Ở thành thị, những người thuộc nhóm 15-64 tuổi chiếm 62% tổng số dân thành thị; ở nông thôn là 54%. Vì vậy, tỷ lệ phụ thuộc tuổi của khu vực thành thị là 61 còn nông thôn là 86.

Previous Page of 6Next Page

Comments & Reviews

Login or Facebook Sign in with Twitter
library_icon_grey.png Add share_icon_grey.png Share

Who's Reading

Recommended