Previous Page of 6Next Page

Chu Trung Quoc

spinner.gif

Chữ Trung Quốc, hay còn gọi là chữ Hán, (漢字/汉字; Hán-Việt: Hán tự) là một dạng chữ viết biểu ý của tiếng Trung Quốc. Chữ Trung Quốc có nguồn gốc bản địa, sau đó du nhập vào các nước lân cận trong vùng bao gồm Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Tại các quốc gia này, chữ Hán được vay mượn để tạo nên chữ viết cho ngôn ngữ của dân bản địa ở từng nước.

Sơ lược 

Những quốc gia có ảnh hưởng của chữ Trung Quốc

Truyền thuyết cho rằng Hoàng Đế là người sáng tạo ra văn tự Trung Hoa từ 4-5 ngàn năm trước nhưng ngày nay không còn ai tin rằng Hoàng Đế là nhân vật có thực nữa. Cả thuyết Thương Hiệt cho chữ mà các học giả thời Chiến Quốc đưa ra cũng không thuyết phục vì không ai biết Thương Hiệt ở đời nào. Gần đây người ta đào được ở An Dương (Hà Nam) nhiều mu rùa, xương loài vật, và đồ đồng trên đó có khắc chữ, và các nhà khảo cổ phỏng đoán rằng chữ viết ở Trung Hoa ra đời muộn nhất là vào thời kỳ nhà Thương, khoảng 1800 năm trước Công nguyên.

Cũng như Ai Cập và nhiều dân tộc văn minh thời thượng cổ, chữ viết Trung Hoa thời đó là những hình biểu ý, nghĩa là vẽ phác vật mình muốn chỉ. Chẳng hạn,

* muốn chỉ Mặt Trời, Trung Hoa vẽ Hình:chutuonghinh_mattroi.jpg (Ai Cập cũng tương tự), sau thành chữ 日; 

* muốn chỉ Mặt Trăng, Trung Hoa vẽ Hình:chutuonghinh_mattrang1.jpg (Ai Cập vẽ Hình:Chutuonghinh_mattrang2.jpg), sau thành chữ 月; 

* muốn chỉ dòng nước, Trung Hoa vẽ Hình:chutuong_hinhnuoc.jpg, sau thành chữ 水; 

* muốn chỉ khu ruộng, Trung Hoa vẽ Hình:Chutuonghinhdien.jpg, sau thành chữ 田; 

* muốn chỉ cây cối, Trung Hoa vẽ Hình:Chutuonghinh moc.jpg, sau thành chữ 木; 

* muốn chỉ cái miệng, Trung Hoa vẽ Hình:Chutuonghinh khau.jpg (Ai Cập cũng vẽ Hình:chutuonghinh_khau2.jpg), sau thành chữ 口.

Đó là vào thời kỳ đầu, đến giai đoạn tiếp theo thì chữ cũng tượng hình mà thêm tính cách biểu ý như Hình:chutuonghinh_mattroi.jpg-nhật: cả tiếng Trung Hoa lẫn tiếng cổ Ai Cập đều có nghĩa là ngày; Hình:chutuonghinh_mattrang1.jpg-nguyệt: tiếng Trung Hoa thêm nghĩa chỉ tháng; tiếng Ai Cập cũng dùng cách này để chỉ tháng: vẽ một mặt trăng, nhưng thêm một ngôi sao: Hình:chutuonghinh_sao.jpg.

Qua giai đoạn sau, mỗi hình ở Ai Cập chỉ một vần, như Hình:chutuonghinh_khau2.jpg chỉ cái miệng, nhưng miệng người Ai Cập thời xưa đọc là ra (hay re), cho nên vần đó chỉ thêm vần ra (hay re).

Giai đoạn cuối, mỗi hình (gọi là dấu cũng được) chỉ một âm như hình Hình:chutuonghinh_khau2.jpg không chỉ vần ra (hay re) nữa mà chỉ phụ âm r.

Từ đó, chữ viết cổ Ai Cập không còn là chữ tượng hình mà hình thành chữ tượng thanh - cũng gọi là ký âm - như các chữ của phương Tây: Hy Lạp, La Mã, ...

Chữ Trung Hoa, trái lại, ngừng ở giai đoạn hai, không dùng hình để chỉ vần, ghi âm, mà dùng thêm nhiều cách khác để tạo chữ mới như hội ý, giả tá, chuyển chú... Tóm lại, chữ viết vẫn giữ tính chất tượng hình mà không thành tượng thanh, mặc dầu có sử dụng phép hài thanh: dùng thanh âm của một chữ để ghi thanh âm của một chữ khác. Ví dụ dùng chữ thành (成), là nên, để ghi âm chữ thành (城) là thành lũy và chữ thành (誠) là thành thực; như vậy hai chữ thành 城 và 誠, mỗi chữ gồm hai phần - một phần ghi âm (thành 成), một phần ghi ý. Như chữ thành (城) bao gồm thổ (土) là đất (vì thành làm bằng đất) và ngôn (言) là lời (lời nói thành thật).

[sửa] Đặc điểm

[sửa] Bất lợi

* Thời gian học dài: Người học chữ Trung Quốc phải có nhiều (hai ba năm) mới nhớ được mặt chữ của ba bốn ngàn từ thường dùng; nếu dùng lối tượng thanh thì nhanh và đơn giản hơn. 

* Chữ viết phức tạp, nhiều nét: có những chữ trên hai mươi lăm nét.

Previous Page of 6Next Page

Comments & Reviews

Login or Facebook Sign in with Twitter
library_icon_grey.png Add share_icon_grey.png Share

Who's Reading

Recommended