Previous Page of 14Next Page

Protein

spinner.gif

47  

Chương 3  

Protein  

 

Protein là hợp chất hữu cơ có ý nghĩa quan trọng bậc nhất trong cơ  

thể sống, về mặt số lượng, protein chiếm không dưới 50% trọng lượng khô  

của tế bào; về thành phần cấu trúc, protein được tạo thành chủ yếu từ các  

amino acid vốn được nối với nhau bằng liên kết peptide. Cho đến nay  

người ta đã thu được nhiều loại protein ở dạng tinh thể và từ lâu cũng đã  

nghiên cứu kỹ thành phần các nguyên tố hoá học và đã phát hiện được  

rằng thông thường trong cấu trúc của protein gồm bốn nguyên tố chính là  

C, H, O, N với tỷ lệ C ≈ 50%, H ≈ 7%, O ≈ 23% và N ≈ 16%. Đặc biệt tỷ  

lệ N trong protein khá ổn định (lợi dụng tính chất này để định lượng  

protein theo phương pháp Kjeldahl bằng cách tính lượng N rồi nhân với  

6,25). Ngoài ra trong protein còn gặp một số nguyên tố khác như S ≈0-3%  

và P, Fe, Zn, Cu...  

Phân tử protein có cấu trúc, hình dạng và kích thước rất đa dạng,  

khối lượng phân tử (MW) được tính bằng Dalton (1Dalton = 1/1000 kDa,  

đọc là kiloDalton) của các loại protein thay đổi trong những giới hạn rất  

rộng, thông thường từ hàng trăm cho đến hàng triệu. ví dụ: insulin có khối  

lượng phân tử bằng 5.733; glutamat-dehydrogenase trong gan bò có khối  

lượng phân tử bằng 1.000.000, v.v...  

Từ lâu người ta đã biết rằng protein tham gia mọi hoạt động sống  

trong cơ thể sinh vật, từ việc tham gia xây dưng tế bào, mô, tham gia hoạt  

động xúc tác và nhiều chức năng sinh học khác. Ngày nay, khi hiểu rõ vai  

trò to lớn của protein đối với cơ thể sống, người ta càng thấy rõ tính chất  

duy vật và ý nghĩa của định nghĩa thiên tài của Engels P. "Sống là phương  

thức tồn tại của những thể protein". Với sự phát triển của khoa học, vai trò  

và ý nghĩa của protein đối với sự sống càng được khẳng định. Cùng với  

nucleic acid, protein là cơ sở vật chất của sự sống.  

3.1. Amino acid  

3.1.1 Cấu tạo chung  

Amino acid là chất hữu cơ mà phân tử chứa ít nhất một nhóm  

carboxyl (COOH) và ít nhất một nhóm amine (NH2), trừ proline chỉ có  

nhóm NH (thực chất là một imino acid).  

48  

Trong phân tử amino acid đều có các nhóm COOH và NH2 gắn với  

carbon ở vị trí α. Hầu hết các amino acid thu nhận được khi thuỷ phân  

protein đều ở dạng L-α amino acid. Như vậy các protein chỉ khác nhau ở  

mạch nhánh (thường được ký hiệu: R).  

 

Hình: 3.1. Công thức cấu tạo chung của các amino acid  

 

3.1.2. Phân loại amino acid  

Hiện nay người ta phân loại amino acid theo nhiều kiểu khác nhau,  

mỗi kiểu phân loại đều có ý nghĩa và mục đích riêng. Tuy nhiên, họ đều  

dựa trên cấu tạo hoá học hoặc một số tính chất của gốc R. Ví dụ có người  

chia các amino acid thành 2 nhóm chính là nhóm mạch thẳng và nhóm  

mạch vòng.  

Trong nhóm mạch thẳng lại tuỳ theo sự có mặt của số nhóm  

carboxyl hay số nhóm amine mà chia ra thành các nhóm nhỏ, nhóm amino  

acid trung tính (chứa một nhóm COOH và một nhóm NH2); nhóm amino  

acid kiềm (chứa một nhóm COOH và hai nhóm NH2); nhóm amino acid  

acid (chứa hai nhóm COOH và một nhóm NH ). 2 

Trong nhóm mạch vòng lại chia ra thành nhóm đồng vòng hay dị  

vòng v.v...  

Có người lại dựa vào tính phân cực của gốc R chia các amino acid  

thành 4 nhóm: nhóm không phân cực hoặc kỵ nước, nhóm phân cực  

nhưng không tích điện, nhóm tích điện dương và nhóm tích điện âm.  

Tuy nhiên, hiện nay cách phân loại các amino acid đang được  

nhiều người sử dụng nhất là dựa vào gốc R của amino acid và được chia  

làm 5 nhóm:  

Nhóm I. Gồm 7 amino acid có R không phân cực, kỵ nước, đó là:  

glycine, alanine, proline, valine, leucine, isoleucine và methionine. (Hình 3.2)  

49  

 

Hình 3.2. Công thức cấu tạo của các amino acid nhóm I

Previous Page of 14Next Page

Comments & Reviews

Login or Facebook Sign in with Twitter
library_icon_grey.png Add share_icon_grey.png Share

Who's Reading

Recommended