Trong điều kiện nuôi cấy invitro, tế bào cũng biểu hiện sự điều tiết tín hiệu phân tử hoặc tác dụng truyền tin của nó.
Có rất nhiều nghiên cứu chứng minh đều nêu trên. Ví dụ:
- Tế bào biểu bì thuốc lá khi nuôi cấy đơn độc thì mẫu cấy chỉ có thể trương to, không phân hóa cơ quan, nếu đưa tế bào biểu bì về vị trí cũ trong đoạn thân thì lập tức bị kích thích để hình thành chồi.
- Đã phát hiện ra vai trò phân tử tín hiệu quyết định phát sinh phôi của arabinogalactan protein (AGP) và chito-oligosaccharide ở màng tế bào của các cây cà rốt, cải dầu, sam vân (thông Nauy)...
3. Sự phân hóa tế bào và mô
Tế bào đã trải qua cảm ứng quyết định, trong điều kiện nhất định thì có thể phân hóa thành mô, cơ quan và cây khác nhau, quá trình này gọi là sự tái phân hóa. Sự phân hóa tế bào và mô là bước thứ nhất của sự phát sinh cơ quan và phôi.
Nghiên cứu sự phân hóa mạch dẫn được cọi là mô hình nghiên cứu sự phân hóa tế bào trong nuôi cấy mô thực vật.
Sự phân hóa mô là cơ sở của phát sinh hình thái, khác biệt cơ bản trong quá trình phát sinh hình thái thể hiện ở sự phân cực của tế bào.
3. Điều kiện và đặc trưng của mỗi một giai đoạn biểu hiện tính toàn năng của tế bào thực vật trong nuôi cấy invitro?
4. Thế nào là sự suy thoái tính toàn năng của tế bào thực vật trong nuôi cấy invitro. Nguyên nhân của hiện tượng suy thoái này.
Trong nuôi cấy invitro tính toàn năng của tế bào có thể bị suy thoái và biến mất. Điều này thường biểu hiện dưới dạng:
- Sự thích ứng của mô sẹo: hiện tượng những mô nuôi cấy lúc đầu phải phụ thuộc vào một loại chất kích thích sinh trưởng nào đó mới có khả năng tự dưỡng chất đó
- Sự suy thoái tiềm năng phát sinh hình thái mẫu cấy khi nuôi cấy trong thời gian dài: sự tăng lên của số lần cấy chuyển, tiềm năng phát sinh hình thái của mẫu mô nuôi cấy thực vật giảm đi hoặc bị mất, thậm chí sự phân chia và sinh trưởng tế bào giảm dẫn đến chỗ ngừng hẳn.
Giả thuyết về nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái tiềm năng phát sinh hình thái mẫu nuôi cấy:
- Giả thuyết di truyền: do sự thay đổi trong độ bội của tế bào mẫu nuôi cấy, xuất hiện thể không chỉnh bội, cấu trúc nhiễm sắc thể biến đổi và đột biến gen...dẫn đến suy thoái tính tiềm năng phát sinh hình thái.
- Giả thuyết sinh lý: cho răng sự biến đổi mức độ và sự cần bằng chất kích thích sinh trưởng nội sinh là nhân tố của sự suy thoái tiềm năng phát sinh hình thái.
- Giả thuyết cạnh tranh: trong mô sẹo hoặc tế bào nuôi cấy, có sự kế tiếp và luân phiên sinh trưởng của các loại tế bào với khả năng phát sinh hình thái khác nhau. Qua quá trình nuôi cấy lâu dài, các tế bào không có tiềm năng phát sinh sẽ chiếm ưu thế hơn.
5. Tác dụng của các thành phần môi trường đến quá trình sinh trưởng phát sinh hình thái của tế bào (vai trò của môi trường nuôi cấy)?
Môi trường nuôi cấy là điều kiện tối cần thiết, là yếu tố quyết định cho sự phân hóa tế bào và cơ quan trong nuôi cấy. Có nhiều loại môi trường nuôi cấy cho các loại thực vật khác nhau và mục đihcs nuôi cấy khác nhau. Môi trường thường bao gồm các thành phần chính sau đây:
- Nguyên tố đa lượng
- Nguyên tố vi lượng
- Nguồn cácbon hữu cơ
- Các vitamin
- Chất điều tiết sinh trưởng
- Chất làm đông môi trường
Các nguyên tố đa lượng
- Các nguyên tố khoáng chất mà thực vật cần thiết khi nồng độ lớn hơn 0.5 mM/l gọi là nguyên tố đa lượng
Add to your private library
Thư viện của tôiAdd this story to your public reading lists