Xem trước of 6Tiếp theo >

Sự khác nhau giữa các bản hiến pháp

spinner.gif

Ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập. Ngay sau đó, Bác Hồ đã chỉ đạo việc bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam non trẻ. Ngày mồng 6 tháng 1 năm 1946, cả nước đã tham gia cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội đầu tiên. Và 2 tháng sau, ngày mồng 2 tháng 3 năm 1946, Kỳ họp đầu tiên của Quốc Hội Khóa 1 đã họp tại Nhà Hát Lớn thành phố Hà Nội. Kỳ họp này chỉ diễn ra trong 1 ngày. Vào cuối ngày đó, Quốc hội đã bầu ra Ban dự thảo Hiến Pháp đầu tiên, gồm 11 vị, như Trần Duy Hưng, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Đình Thi, Cù Huy Cận, Nguyễn Thị Thục Viên, Đào Hữu Dương... Bác Hồ kiêm Trưởng ban Dự thảo hiến pháp. 8 tháng sau, vào ngày mồng 9 tháng 11 năm 1946, tại Kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khóa 1, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên, còn gọi là Hiến pháp năm 1946.
Từ năm 1946 đến nay, nước ta đã có thêm 3 bản Hiến pháp nữa là Hiến pháp 1959 (còn gọi là Hiến pháp 1960, vì nó được thông qua ngày cuối năm 31 tháng 12 năm 1959, và ngày hôm sau, mở đầu năm 1960, thì công bố), Hiến pháp 1980 và Hiến pháp hiện nay 1992. 
Hiến pháp 1946 rất ngắn gọn, chỉ có 70 điều, với Lời nói đầu chỉ có 26 dòng, 235 chữ. Hiến pháp thứ 2 năm 1959 có 112 điều, Lời nới đầu dài tới 127 dòng, khoảng 1500 chữ. Hiến pháp thứ 3 năm 1980 có tới 147 điều, Lời nói đầu dài tới 164 dòng, khoảng 1900 chữ. Hiến pháp hiện nay năm 1992 có 147 điều, Lời nói đầu đã gọn lại còn 52 dòng, khoảng 600 chữ. 
Điều 10 của Hiến pháp 1946 nói rất rõ về quyền công dân: - “Công dân Việt 
Nam có quyền: Tự do ngôn luận, Tự do xuất bản, Tự do tổ chức và hội họp, Tự do tín ngưỡng, Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”.

Đến Hiến pháp năm 1959, Điều 25 quy định: -“Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình. Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó”. 

Điều 28 quy định: - “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền tự do cư trú và đi lại”. Hiến pháp 1959 bỏ đi quy định về “Tự do xuất bản” và “Tự do ra nước ngoài” của Hiến pháp năm 1946. Nhưng lại có tiến bộ ở quy định “Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền tự đó”. 

Hiến pháp năm 1980, Điều 67 ghi về quyền công dân cũng giống như Hiến pháp năm 1959, nhưng có thêm một đoạn ràng buộc rằng các quyền đó “phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và nhân dân”. Phía cuối Điều 67 này còn có đoạn như cảnh cáo: “Không ai được lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước và của nhân dân”.

Hiến pháp năm 1992 cũng quy định về quyền công dân như Hiến pháp 1959 và 1980, nhưng không có quy định về “Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó”. Và điều đặc biệt ở Hiến pháp 1992, là ở các quy định về quyền công dân, thường có các đoạn kết ràng buộc “theo quy định của pháp luật”. Điều đó có nghĩa là Hiến pháp phải tuân theo luật pháp. Như thế là trái với bản chất của Hiến pháp. Bản chất của Hiến pháp là đạo luật gốc, là đạo luật đứng trên tất cả các đạo luật, mọi đạo luật ban hành ra đều phải tuân theo Hiến pháp. Nếu luật ban hành trái Hiến pháp thì luật đó không có giá trị, phải bị hủy bỏ. Đó là bản chất của Hiến pháp. 

Hiến pháp 1946 không hề có quy định nào như thế. Khi cần một đạo

Xem trước of 6Tiếp theo >

Bình luận & Đánh giá (1)



library_icon_grey.png Thêm share_icon_grey.png Chia sẻ

Đang đọc

Đề nghị