Xem trước of 5Tiếp theo >

Viêm ruột thừa

spinner.gif

Đặt văn bản tại đây...Viêm ruột thừa 

(Yduocvn.com) - Viêm ruột thừa

( Trần Văn Quyết ) 

II. Mục tiêu: 

1. Nêu cơ chế bệnh sinh của viêm ruột thừa 

2. Trình bày nguyên nhân gây viêm ruột thừa 

3. Trình bày triệu chứng của viêm ruột thừa 

4. Nguyên tắc điều trị của viêm ruột thừa 

III. Nội dung: 

1- Đại cương 

Viêm ruột thừa cấp là một bệnh rất hay gặp trong cấp cứu ngoại khoa về bụng (khoảng 1/1500 dân); chẩn đoán dễ trong những trường hợp điển hình, nhưng cũng có khi khó do những thể không điển hình, dễ bỏ sót, như: 

Viêm ruột thừa ở trẻ nhỏ, ở người lớn có tuổi; 

Do vị trí giải phẫu bất thường của ruột thừa; 

Do nhiều diễn biến khác nhau của ruột thừa bị viêm. 

Khi đã chẩn đoán là viêm ruột thừa thì chỉ có mổ và phải mổ sớm, vì không có sự song song giữa mức độ các dấu hiệu lâm sàng và mức độ tổn thương thực thể của ruột thừa, và vì không thể tiên lượng được diễn biến của bệnh viêm ruột thừa. Mổ sớm chính là để tránh các biến chứng phức tạp và nguy hiểm của bệnh. 

2- Giải phẫu của ruột thừa

Ruột thừa là một đoạn tịt của ống tiêu hoá, giống như một túi cùng, dài khoảng 8cm, gốc ruột thừa liền với manh tràng (nơi gặp nhau của 3 dải cơ cọc), cách van Bauhin khoảng 2,5cm. 

ở trẻ con, đáy manh tràng hình nón cân đối, đỉnh hình nón ở dưới (nơi gốc ruột thừa). ở người lớn do manh tràng phát triển không đều nên dần dần gốc ruột thừa nằm ra sau và vào trong (sang trái). 

Vị trí của manh tràng và ruột thừa trong ổ bụng: thường manh tràng và ruột thừa nằm ở hố chậu phải. Có thể nằm ở hố chậu trái (trong trường hợp đảo ngược phủ tạng hoặc ruột quay dở dang). Có thể nằm giữa bụng trong trường hợp mạc treo chung. Có thể nằm dưới gan (3%) do ruột già quay chưa hết; hoặc nằm trong tiểu khung (16% ở nam và 3% ở nữ). 

Vị trí tương đối của ruột thừa với manh tràng. 

ở manh tràng (vị trí thường gặp); 

ở sau manh tràng; 

ở sau đoạn cuối của hồi tràng. 

Ruột thừa có nhiều nang limphô nên được ví như một tuyến hạnh nhân (amida) trong ổ bụng, ở tuổi nhũ nhi lòng ruột thừa rộng, ở trẻ em lòng ruột thừa hẹp hơn do các limphô tăng sản, về già ruột thừa trở thành dải xơ. 

3- Sinh lý bệnh

Ruột thừa bị viêm thường do hai nguyên nhân kết hợp: lòng ruột thừa bị tắc và nhiễm khuẩn. Lòng ruột thừa tắc do nút của tế bào niêm mạc ruột thừa long ra; do sỏi phân; do ký sinh trùng (giun đũa); hoặc do dây chằng đè gấp gốc ruột thừa; hoặc do phì đại quá mức của các nang lymphô. Lòng ruột thừa tắc làm cho áp lực trong lòng ruột thừa tăng lên, khi vượt quá 100cm H2O sẽ cản trở tuần hoàn tĩnh mạch và bạch mạch, và sau đó là động mạch, làm tổn thương niêm mạc ruột thừa, tạo điều kiện cho vi khuẩn thâm nhập vào tổ chức hoặc làm hoại tử ruột thừa. 

4- Giải phẫu bệnh. 

4.1. Thể viên xuất tiết: 

Nhìn bề ngoài ruột thừa gần như bình thường. 

Có tổn thương lớp niêm mạc và dưới niêm mạc (xâm nhập tế bào viêm) 

Thể nặng nhất của thể này là ruột thừa phù nề và xung huyết. 

4.2. Thể có mủ: 

Mặt ngoài của ruột thừa có giả mạc bao bọc. 

Trong lòng ruột thừa có mủ. 

ở phúc mạc có dịch (có thể là dịch đục, nhưng nuôi cấy không có vi khuẩn). 

3. Thể hoại tử 

Tổn thương hoại tử có thể toàn bộ hoặc một phần của ruột thừa 

Phần hoại tử sẽ thủng, gây nên viêm phúc mạc toàn bộ. Trong ổ bụng có mủ thối, đôi khi có hơi. 

Nếu tiến triển từ từ, các quai cuối của ruột non, mạc nối lớn và manh tràng bao bọc ổ viêm, khi ruột thừa vỡ mủ không lan toàn khắp ổ bụng, mà tạo nên viêm phúc mạc khu trú (áp xe ruột thừa). Các tạng dính không chặt lắm, vì vậy nên tránh phá vỡ làm cho viêm phúc mạc khu trú biến thành viêm phúc mạc toàn bộ. Viêm phúc mạc khu trú có thể vỡ thành viên phúc mạc toàn bộ ba thì.

Xem trước of 5Tiếp theo >

Bình luận & Đánh giá

library_icon_grey.png Thêm share_icon_grey.png Chia sẻ

Đang đọc

Đề nghị