Previous Page of 8Next Page

II. ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC, THỐNG

spinner.gif

II. ĐƯỜNG LỐI KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC, THỐNG 

NHẤT TỔ QUỐC (1954 - 1975) 

1. Đường lối trong giai đoạn 1954 - 1964: 

a. Hoàn cảnh lịch sử của cách mạng Việt Nam sau tháng 7/1954: 

Sau Hiệp định Genéve, cách mạng Việt Nam vừa có những thuận lợi mới vừa 

đứng trước nhiều khó khăn, phức tạp. 

46 

Thuận lợi: 

- Hệ thống xã hội chủ nghĩa tiếp tục lớn mạnh cả về kinh tế, quân sự, khoa 

học - kỹ thuật, nhất là Liên Xô. 

- Phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển ở Châu Á, Châu Phi và 

khu vực Mỹ Latinh. 

- Phong trào hòa bình, dân chủ lên cao ở các nước tư bản. 

- Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, làm căn cứ địa chung cho cả nước. 

- Thế và lực của cách mạng đã lớn mạnh hơn sau 9 năm kháng chiến. 

- Có ý chí độc lập thống nhất Tổ quốc của nhân dân từ Bắc chí Nam. 

Khó khăn: 

- Đế quốc Mỹ có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh, dâm mưu bá chủ thế 

giới với các chiến lược toàn cầu phản cách mạng. 

- Thế giới bước vào thời kỳ chiến tranh lạnh, chạy đua vũ trang giữa 2 phe 

xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. 

- Xuất hiện sự bất đồng trong hệ thống xã hội chủ nghĩa , nhất là giữa Liên 

Xô và Trung Quốc. 

- Đất nước ta bị chia làm 2 miền: kinh tế miền Bắc nghèo nàn, lạc hậu. miền 

Nam trở thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Đế quốc Mỹ trở thành kẻ thù 

trực tiếp của nhân dân ta. 

Một Đảng lãnh đạo 2 cuộc cách mạng khác nhau, ở 2 miền đất nước có chế độ 

chính trị khác nhau là đặc điểm lớn nhất của cách mạng Việt Nam sau tháng 7/1954. 

Đặc điểm bao trùm và các thuận lợi, khó khăn nêu trên là cơ sở để Đảng phân tích, 

hoạch định đường lối chiến lược chung cho cách mạng cả nước trong giai đoạn mới. 

b. Quá trình hình thành, nội dung và ý nghĩa của đường lối. 

Quá trình hình thành và nội dung đường lối: 

Yêu cầu bức thiết đặt ra cho Đảng sau tháng 7/1954 là phải vạch ra được 

đường lối đúng đắn, vừa phù hợp với tình hình mỗi miền, tình hình cả nước, vừa phù 

hợp với xu thế chung của thời đại. 

Tháng 9/1954, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về tình hình mới, nhiệm vụ mới và 

chính sách mới của Đảng. Nghị quyết đã chỉ ra những đặc điểm chủ yếu của tình 

hình trong lúc cách mạng Việt Nam bước vào một giai đoạn mới là: từ chiến tranh 

chuyển sang hòa bình; nước nhà tạm chia làm 2 miền; từ nông thôn chuyển vào 

thành thị; từ phân tán chuyển đến tập trung. 

Hội nghị lần thứ 7 (3/1955) và Hội nghị lần thứ 8 (8/1955) nhận định: Muốn 

chống đế quốc Mỹ và tay sai, củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành 

độc lập và dân chủ. Điều cốt lõi là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững 

và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam. 

Tháng 12/1957, Hội nghị Trung ương lần thứ 13 đã xác định đường lối tiến 

hành đồng thời 2 chiến lược cách mạng: "Mục tiêu và nhiệm vụ cách mạng của toàn 

Đảng, toàn dân ta hiện nay là: củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần từng bước 

47 

lên chủ nghĩa xã hội. Tiếp tục đấu tranh để thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ 

sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hòa bình". 

Tháng 1/1959, Hội nghị Trung ương lần thứ 15 họp bàn về cách mạng miền 

Nam. Sau nhiều lần họp và thảo luận, Ban chấp hành Trung ương đã ra nghị quyết 

về cách mạng miền Nam. Trung ương Đảng nhận định: "Hiện nay cách mạng Việt 

Nam do Đảng ta lãnh đạo bao gồm 2 nhiệm vụ chiến lược: cách mạng xã hội chủ 

nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Hai nhiệm 

vụ chiến lược đó tuy có tính chất khác nhau, nhưng quan hệ hữu cơ với nhau...

Previous Page of 8Next Page

Comments & Reviews (8)

Login or Facebook Sign in with Twitter


library_icon_grey.png Add share_icon_grey.png Share

Who's Reading

Recommended