Previous Page of 26Next Page

Cay Dau Tuong

spinner.gif

I. Lịch sử phát triển và tình hình sản xuất và giá trị kinh tế của cây đậu tương.

1. Lịch sử phát triển và tình hình sản xuất cây đậu tương trên Thế giới:

Đậu tương còn có tên gọi khác là đậu nành, là một trong những loại cây trồng cổ nhất của nhân loại. Đậu tương có nguồn gốc từ vùng mà An Châu -Trung Quốc, theo các nhà nghiên cứu Nhật Bản thì đậu tương được đưa vào Triều Tiên vào khoảng 200 năm trước Công nguyên, sau đó sang Nhật Bản. Đến giữa Thế kỷ 17 đậu tương xuất hiện ở châu Âu, còn tại châu Mỹ xuất hiện năm 1804 nhưng phải đến đầu Thế kỷ 20 mới trồng phổ biến. Diện tích và sản lượng đậu tương trên Thế giới tăng mạnh nhất trong những năm 1965-1980 và tương đối ổn định đến nay. Năm 1997, sản lượng đậu tương của Thế giới đạt 146.700 ngàn tấn, trong đó bốn nước trồng đậu tương phổ biến nhất là Mỹ, Braxin, Trung Quốc, Achentina chiếm tới 90-95% sản lượng, đây là những nước có năng suất đậu tương cao, như Mỹ: 2,62tấn/ha; Braxin: 2,32tấn/ha; Trung Quốc: 3,19tấn/ha (số liệu năm 1997-Tài liệu cây đậu tương của Ngô Thế Dân và cộng sự) .

Các nước xuất khẩu đậu tương hàng đầu Thế giới như Mỹ, Braxin, Achentina. Các nước nhập khẩu đậu tương với số lượng lớn như Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC), Nhật Bản, Tây Ban Nha, Đông Âu. Lượng đậu tương nhập vào EEC chiếm tới 90% tổng lượng hạt có dầu được nhập vào. Các nước EEC, Tây Ban Nha, Đông Âu nhập đậu tương chủ yếu để sản xuất dầu, tái xuất khẩu dầu và chế biến thức ăn gia súc, trong khi Nhật Bản và nhiều nước khác chủ yếu làm thức ăn cho người, ngay cả ở Trung Quốc dù sản lượng đậu đứng thứ 3 Thế giới nhưng do lượng tiêu dùng làm thức ăn lớn nên cũng trở thành nước nhập khẩu đậu tương.

2. Sự phát triển và tình hình sản xuất đậu tương tại Việt nam:

Do vị trí địa lý nước ta nằm sát Trung Quốc, có sự giao lưu nhiều mặt từ lâu đời nên cây đậu tương được biết đến và trồng từ rất sớm, ngay từ thời Vua Hùng ông cha ta đã biết trồng cây đậu tương cùng với nhiều loại đậu khác (Cây đậu nành- Phạm Văn Biên và công sự-1996).

Mặc dù có lịch sử lâu đời, nhưng trải qua một thời gian dài cây đậu tương vẫn chiếm một vị trí rất khiêm tốn trong nền sản xuất nông nghiệp nước ta. Năm 1976, diện tích đậu tương cả nước chỉ đạt gần 40 ngàn ha, năng suất 5,2tạ/ha, sản lượng 20,7 ngàn tấn. Năm 1995 có diện tích lớn nhất đạt 121,1 ngàn ha, năng suất 10,3tạ/ha, sản lượng 125,5 ngàn tấn. Hiện nay diện tích đậu tương cả nước khoảng trên dưới 100 ngàn ha, năng suất khoảng 11-12tạ/ha.

Cả nước hình thành 6 vùng sản xuất đậu tương chính. Theo số liệu năm 1993 vùng Đông Nam Bộ có diện tích lớn nhất (26,2% diện tích đậu tương cả nước), miền núi và trung du phía Bắc (24,7%); đồng bằng sông Hồng (17,5%); đồng bằng sông Cửu Long (12,4%), còn lại là đồng bằng ven biển miền trung và Tây Nguyên.

Về sản lượng, 3 vùng đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu long chiếm 63,8% sản lượng đậu tương cả nước. Đặc biệt ĐBSCL chỉ chiếm 12,7% diện tích nhưng chiếm tới 20,9% sản lượng với năng suất bình quân 16tạ/ha, cao nhất nước.

Trong các thời vụ trồng đậu thì vụ xuân chiếm 14,2%, vụ hè thu 31,3%, vụ mùa 2,68%, vụ thu đông 22,1%, vụ đông xuân 29,7%. Ở vùng núi Bắc Bộ, khu 4 cũ, ĐBSCL vụ đông xuân là vụ chính (59,8- 83,5%), ở đồng bằng sông Hồng, trung du Bắc Bộ vụ xuân là vụ chính (60,6- 65,6%), ở vùng Tây Nguyên, Đông nam bộ chủ yếu trồng vụ hè thu và thu đông (60-77%).

Previous Page of 26Next Page

Comments & Reviews

Login or Facebook Sign in with Twitter
library_icon_grey.png Add share_icon_grey.png Share

Who's Reading

Recommended