Xem trước of 2Tiếp theo >

hop dong vo hieu va cach xu ly hop dong

spinner.gif

4. HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU VÀ CÁCH XỬ LÝ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU :  

4.1. Khái niệm :  

Hợp đồng bị coi là vô hiệu là các trường hợp hợp đồng kinh tế được xem như  

không có hiệu lực áp dụng cho các bên ký kết. Việc xác định hợp đồng kinh tế vô hiệu  

thuộc thẩm quyền của Tòa án có thẩm quyền. Luật thương mại 2005 không qui định các trường hợp vô hiệu nên áp dụng theo  

qui định của BLDS 2005  

4.2. Các trường hợp hợp đồng vô hiệu :  

4.2.1. Vô hiệu toàn bộ :  

Khi tòan bộ hợp đồng không có giá trị thực hiện trong các trường hợp sau:  

a). Khi nội dung giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội:  

Điều cấm của pháp luật là những qui định của pháp luật không cho phép chủ thể  

thực hiện những hành vi nhất định  

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời  

sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng (đ.128 BLDS)  

b) Khi nội dung giao dịch do giả tạo :  

Giao dịch này nhằm che dấu một giao dịch khác. Trường hợp này, giao dịch giả  

tạo bị coi là vô hiệu còn giao dịch che dấu vẫn có hiệu lực trừ trường hợp giao dịch đó  

cũng vô hiệu theo qui định của BLDS.  

Trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba  

thì giao dịch đó vô hiệu (đ. 129 BLDS)  

c). Khi giao dịch do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân  

sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện:  

Trong trường hợp này, theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án  

tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo qui định của pháp luật, giao dịch này phải do  

người đại diện của họ xác lập, thực hiện (đ. 130 BLDS).  

d). Khi giao dịch do bị lừa dối, đe dọa :  

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm  

làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của  

giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó.  

Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba làm  

cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe,  

danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con củamình.  

Trường hợp này bên bị lừa dối, đe dọa có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao  

dịch dân sự đó là vô hiệu (đ. 132 BLDS) .  

d). Khi giao dịch do bị nhầm lẫn :  

Khi một bên có lỗi do vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch.  

Bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó. Nếu  

bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao  

dịch vô hiệu.  

Trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao  

dịch thì giải quyết theo qui định như trường hợp bị lừa dối, đe dọa (đ.131 BLDS)  

đ) Khi giao dịch do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi  

của mình :  

Người có năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm  

không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên  

bố giao dịch đó vô hiệu (đ. 133 BLDS).  

e). Khi giao dịch không tuân thủ qui định về hình thức: Trong trường hợp pháp luật qui định hình thức giao dịch là điều kiện có hiệu lực  

của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa  

án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác quyết định, buộc các bên thực hiện qui định  

về hình thức của giao dịch đó trong một thời hạn, quá hạn đó mà không thực hiện thì  

giao dịch là vô hiệu (đ.134 BLDS)

Xem trước of 2Tiếp theo >

Bình luận & Đánh giá (4)



library_icon_grey.png Thêm share_icon_grey.png Chia sẻ

Đang đọc

Đề nghị