Xem trước of 2Tiếp theo >

DÀN Ý BÀI "TRÀNG GIANG"

spinner.gif

DÀN Ý BÀI "TRÀNG GIANG" 

Chú ý: Đây chỉ là một bài dàn ý chứ không hẳn là một bài phân tích .Bài này được Nhung lấy từ phần giải đề thi đại học Văn khối D năm 2007. 

Đề bài: Tràng giang của Huy Cận là bài thơ mang vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại.Anh/chị hãy phân tích bài thơ Tràng giang để làm sáng tỏ nhận xét trên. 

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp 

Con thuyền xuôi mái nước song song 

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả 

Củi một cành khô lạc giữa dòng

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu 

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều 

Nắng xuống, chiều lên sâu chót vót 

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng 

Mênh mông không một chuyến đò ngang 

Không cầu gợi chút niềm thân mật 

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc 

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa 

Lòng quê dợn dợn vời con nước 

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Dàn ý:

1.Mở bài: Trong phần mở đề, cần khẳng định Huy Cận (1919-2005) là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của phong trào "Thơ Mới" (1932-1945), bài thơ Tràng giang trong tập Lửa thiêng là một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của Huy Cận. Bài thơ mang vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại.

2.Thân bài: Phân tích bài thơ để làm rõ vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại 

a)Trước hết, nhan đề bài thơ Tràng giang gợi lên không khí những bài thơ cổ: một dòng sông dài rộng, những khoảng cách xa xôi, những chia li cách trở (chàng ở đầu sông Tương, thiếp ở cuối sông Tương. . .). Tràng giang còn gợi tên con sông Trường giang, nơi Thôi Hiệu viết Hoàng Hạc lâu, Liù Bạch viết Hoàng Hạc lâu, tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng. . . 

+ Huy Cận có thể viết Trường giang nhưng phải viết Tràng giang vì vần "ang" liên tiếp hai lần nghe buồn và mênh mang hơn.

+ Trước khi vào phần chính, Huy Cận còn viết một câu "đề từ":

Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài 

Không chỉ có trời rộng và sông dài của thơ cổ, Huy Cận còn đưa vào đó nổi bâng khuâng của thời đại : trời rộng nhớ sông dài.

+ Thật ra thì con sông trong bài thơ Huy Cận không phải là Trường Giang của Trung Quốc trong thơ xưa, mà chính là con sông Hồng của Việt Nam. Bên dòng sông ấy, nơi một bến đò có tên là bến Chèm, Huy Cận đã cảm xúc mà viết nên bài Tràng giang của mình.

b)Phân tích bài thơ qua từng khổ thơ để làm rõ vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại. Bốn khổ thơ như bốn bức tranh cổ, nhưng ẩn chứa trong đó nỗi cô đơn của con người hiện đại.

Bức tranh thứ nhất: 

- Những hình ảnh cổ điển: một dòng tràng giang phẳng lặng, một con thuyền lặng lẽ trôi, một cành củi khô nhỏ bé.

- Cảm giác buồn của con người hiện đại:

+ Sóng gợn tràng giang nhưng lại buồn điệp điệp (điệp từ điệp điệp - từ cái hữu hình của sóng trên tràng giang mà nhận ra cái vô hình là nỗi buồn của con người).

+ Thuyền và nước bên nhau nhưng giữa thuyền và nước là sự xa cách hững hờ. Thuyền và nước theo hai chiều đối nghịch (về - lại), nổi lên giữa cuộc chia li là sầu trăm ngả. 

+ Cành củi bé nhỏ giữa tràng giang mênh mông, nhà thơ còn cố tình làm rõ: củi - một cành - khô. Đã thế, như có điều vô lí: một cành củi - lạc mấy dòng. Cành củi ở đây không chỉ là cành củi mà còn là cảm nhận về thận phận bé nhỏ của con người.

Bức tranh thứ hai: 

- Bức tranh phía bên kia tràng giang với những nét đơn sơ: mấy cồn đất nhỏ thưa thớt, những làn gió nhẹ thổi qua.

- Bức tranh vẫn tiếp tục gợi lên nỗi buồn và cô đơn, bởi vì những cồn đất chỉ là lơ thơ cồn nhỏ, gió chỉ là gió đìu hiu. Câu thơ gợi một hình ảnh trong Chinh phụ ngâm :

Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò

Xem trước of 2Tiếp theo >

Bình luận & Đánh giá

library_icon_grey.png Thêm share_icon_grey.png Chia sẻ

Đang đọc

Đề nghị