Xem trước of 10Tiếp theo >

Các vùng đất ngập nước ở Việt Nam - Tiềm năng và thách thức

spinner.gif

nổ, các hoạt động khai thác các vùng đất bồi có cỏ 

biển vào mục đích nông nghiệp, nuôi trồng thủy 

sản làm cho diện tích bãi cỏ biển bị thu hẹp, gây 

mất nơi cư trú của các nguồn lợi hải sản có giá trị 

và hạn chế sự phát triển của cỏ biển (ảnh 12). Rõ 

rệt nhất, năm 2003, về diện tích cỏ biển bị mất là 

6.775 ha chiếm 63% (so với năm 1997). Đặc biệt, 

nhiều nơi đã bị mất hẳn cỏ biển như Đồng Rui, 

Chương Cả, Tuần Châu (Quảng Ninh), Tràng Cát, 

Gia Luận (Hải Phòng) hoặc gần mất hẳn như ở 

Vụng Bầu (Phú Quốc). Sự suy giảm và mất các 

thảm cỏ biển của nước ta đang có nguy cơ gia tăng, 

ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sinh thái 

biển: suy giảm chất lượng môi trường nước và 

trầm tích, mất cân bằng dinh dưỡng, sinh thái và 

ĐDSH, giảm trữ lượng cá và nguồn trứng cá và cá 

con trong hệ sinh thái này, giảm nguồn cung cấp 

nguyên liệu cho công nghiệp và nông nghiệp, mất 

diện tích sa bồi các vùng cửa sông gây ảnh hưởng 

tới quá trình bồi tụ và mở rộng quỹ đất... 

e. Đất ngập nước thuộc hồ (hồ chứa, hồ tự nhiên) 

Các hồ tự nhiên tiêu biểu ở Việt Nam là: Hồ Ba Bể 

(Bắc Kạn - ảnh 13), Hồ Chử (Phú Thọ), Hồ Tây (Hà 

Nội), Biển Hồ (Gia Lai), Hồ Lăk (Đăk Lăk), Hồ Đơn 

Dương, Đan Kia (Đà Lạt), Hồ Biển Lạc (Bình 

Thuận). Một số có diện tích lớn có thể kể đến là: 

Hồ Lăk có diện tích 600 ha, thực vật trong hồ 

phong phú với hơn 100 loài thực vật nổi, 50 loài 

động vật nổi, 20 loài động vật đáy và 49 loài cá, 

ngoài ra có cả cá sấu, kì đà, chim di trú; Hồ Tây có 

diện tích 526 ha với 12 loài thực vật nổi, 33 loài cá 

chép (Cypriniformes); Biển Hồ có diện tích 300 ha, 

122 loài thực vật nổi, 54 loài động vật nổi, 15 loài 

động vật đáy và 27 loài cá 

f. Sông suối  

Việt Nam có lượng mưa lớn, cùng với đặc điểm địa 

hình (75% lãnh thổ là đồi núi) đã hình thành một 

hệ thống sông, suối dày đặc. Đặc trưng cho loại 

hình thủy vực này là quần xã thực vật nổi khá 

phong phú, nhưng có số lượng thấp. Sông, suối là 

nơi cư trú rất quan trọng của các quần thể cá: các 

sông miền Bắc có 243 loài, sông miền Trung có 134 

loài, sông miền Nam có 255 loài. 

Tuy nhiên, các hoạt động xây đập, kè, khai thác 

khoáng sản (cát, sỏi,...), giao thông thủy, xả thải,... 

đã và đang làm suy thoái môi trường và tài 

nguyên của hệ sinh thái này. 

2.1.5. Xu thế biến động đất ngập nước 

Việt Nam 

a. Biến động về diện tích 

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (năm 2004), 

tổng diện tích ĐNN Việt Nam là khoảng hơn 10 

triệu ha. Trong 15 năm qua, diện tích ĐNN tự 

nhiên giảm đi, diện tích ĐNN nhân tạo tăng lên:  

• Các khu rừng ngập mặn tự nhiên ven biển 

đã mất dần, thay vào đó là các đầm nuôi 

thủy sản, các công trình du lịch và một số ít 

diện tích rừng trồng. Diện tích rừng ngập 

mặn đã giảm đi 183.724 ha trong 20 năm qua 

(từ năm 1985). Trong khi diện tích nuôi 

trồng thủy sản đã tăng lên 1,1 triệu ha vào 

năm 2003.  

• Các khu rừng Tràm tự nhiên và các trảng cỏ 

ngập nước theo mùa ở Đồng Tháp Mười 

cũng đã mất dần, thay vào đó là diện tích 

khai hoang trồng lúa và các khu rừng trồng 

tràm.  

• Diện tích ĐNN mặn ven biển năm 1982 là 

494.000 ha, đến năm 2000 là 606.792 ha, do 

mở rộng diện tích nuôi tôm 

b. Biến động về chất lượng môi trường 

Môi trường Việt Nam nói chung và ĐNN nói riêng 

đang theo xu hướng xấu do một số nguyên nhân 

chính sau: 

• Ô nhiễm do chất thải công nghiệp: các chất 

ô nhiễm công nghiệp, từ tàu thuyền, các xí 

nghiệp sản xuất và chế biến đã và đang gây 

ra những tác động nghiêm trọng đến chất

Xem trước of 10Tiếp theo >

Bình luận & Đánh giá (8)



library_icon_grey.png Thêm share_icon_grey.png Chia sẻ

Đang đọc

Đề nghị