Previous Page of 2Next Page

3.11:so sánh cn truy nhập quang thụ động:APON, BPON, GPON, EPON

spinner.gif

Câu 25 (Mai) :So sánh các công nghệ truy nhập quang thụ động : APON, BPON, GPON, EPON theo các tiêu chí  khác nhau (tốc độ, cấu trúc khung, tổ chức chuẩn hoá, sô thuê bao/nhánh, băng tần/ thuê bao, ….)

          Mạng quang thụ  động (PON - Passive Optical Network) là một kiến trúc mạng  điểm-đa  điểm, sử dụng các bộ chia quang thụ  động (không có nguồn cấp) để chia công suất quang từ một sợi quang tới các sợi quang cung cấp cho nhiều khách hàng.

          Theo định nghĩa của ITUT,mạng quang thụ động (PON) là một mạng quang không có các phần tử điện hay các thiết  bị quang điện tử”. Như vậy với khái niệm này, mạng PON sẽ không chứa bất kỳ một phần tử tích cực nào mà cần phải có sự chuyển đổi quang- điện. Thay vào đó PON sẽ chỉ bao gồm: Sợi quang, bộ chia, bộ kết hợp, bộ ghép định hướng, thấu kính, bộ lọc và các phụ kiện… Điều này giúp cho PON có một số ưu điểm như: không cần nguồn điện cung cấp nên không bị ảnh hưởng bởi nhiễu nguồn, có độ tin cậy cao và không cần phải bảo dưỡng do tín hiệu không bị suy hao như đối với các phần tử tích cực.

Các công nghệ  PON:

1.APON (ATM Passive Optical Network) Mạng quang thụ động ATM, là sự kết hợp của phương thức truyền tải không đồng bộ ATM với mạng truy nhập quang thụ động PON. Đây là chuẩn mạng quang thụ động đầu tiên. Từng được sử dụng chủ yếu cho các ứng dụng thương mại và trên nền ATM. Tốc  độ hoạt  động là 155,52Mbps hoặc 622,08Mbps. Băng tần cho mỗi thuê bao là 4,8Mbps trong hệ thống 155,52Mbps và 19,4Mbps trong hệ thống 662.08Mbps

Cấu trúc khung truyền dẫn cho APON :

−  Đường xuống: Ở đường xuống, APON sử dụng công nghệ ghép kênh theo thời gian.[ Trong đó, các tế bào gửi cho các ONU khác nhau được ghép kênh ở luồng xuống theo thời gian. Đồng thời, trong các khung đường xuống còn có các tế bào PLOAM (physical layer OAM - lớp vật lý OAM) chứa thông tin cấp phép (Grant) để cho phép các ONU truyền dẫn đường lên] 

−  Đường lên:  Ở  đường lên, APON sử dụng công nghệ  đa truy nhập phân chia theo thời gian. [Mỗi ONU sau khi nhận  được giấy phép từ OLT trong tế bào PLOAM  đường xuống sẽ truyền thông tin của mình vào  đúng khe thời gian được phân. Các tế bào của các ONU khác nhau sẽ đan xen với nhau về mặt thời gian].

 

2.BPON (Broadband PON) là chuẩn trên nền APON.  Được bổ xung  để hỗ trợ cho WDM ghép kênh phân chia theo bước sóng, cấp phát băng thông đường lên động và lớn hơn, và tính chọn lọc. Đồng thời tạo ra giao diện quản lý chuẩn gọi là OMCI, giữa OLT và ONU/ONT, cho phép các mạng cung cấp hỗn hợp.

3. GPON (Gigabit PON) là một sự phát triển của chuẩn BPON.GPON được mở rộng từ chuẩn BPON G983 bằng cách tăng băng thông, nâng hiệu suất băng thông nhờ sử dụng gói lớn, có độ dài thay đổi và tiêu chuẩn hóa quản lý. Thêm nữa, chuẩn cho phép vài sự lựa chọn của tốc  độ bít: cho phép băng thông luồng xuống là 2,488Mbit/s và băng thông luồng lên là 1,244Mbit/s. Phương thức đóng gói GPON-GEM cho phép đóng gói lưu lượng người dùng rất hiệu quả, với sự phân đoạn khung cho phép chất lượng dịch vụ QoS cao hơn phục vụ lưu lượng nhạy cảm như truyền thoại và video.

GPON hỗ trợ tốc  độ cao hơn, tăng cường bảo mật và chọn lớp 2 giao thức (ATM, GEM, Ethernet tuy nhiên trên thực tế ATM chưa từng  được sử dụng).  Điều  đó cho phép GPON phân phối thêm các dịch vụ tới nhiều thuê bao.

Previous Page of 2Next Page

Comments & Reviews

Login or Facebook Sign in with Twitter
library_icon_grey.png Add share_icon_grey.png Share

Who's Reading

Recommended