Previous Page of 9Next Page

giao dịch dân sự vô hiệu

spinner.gif

GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU

I.Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu

1. Khái niệm giao dịch dân sự:

Một giao dịch dân sự chỉ được xác lập, thay đổi hay chấm dứt khi có ít nhất là một trong các bên tham gia giao dịch dân sự thể hiện ý chí của mình dưới một hình thức nhất định nhằm mục đích ghi nhận, thay đổi hoặc huỷ bỏ các quyền và nghĩa vụ dân sự.

Điều 121, BLDS 2005, quy định : " Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương hoặc hợp đồng của cá nhân, pháp nhân và của các chủ thể khác nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự".

2. Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu

Theo Điều 127 BLDS khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu được hiểu là :

" Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại điều 122 của bộ luật này, thì vô hiệu"

Điều 122, BLDS, quy định

" Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định."

Điều đó có nghĩa là những giao dịch dân sự nếu vi phạm một trong bốn điều kiện về hình thức và nội dung sau sẽ có thể bị coi là vô hiệu:

- Người tham gia giao dịch dân sự có năng lực hành vi dân sự;

- Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

- Hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật

Tính vô hiệu của giao dịch dân sự được thể hiện ở chỗ nó không làm phát sinh hậu quả pháp lý mà các bên mong muốn đạt được khi tham gia xác lập giao dịch dân sự đó, hay nói cách khác là nó không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên mong muốn có khi xác lập giao dịch dân sự đó.

II. Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu

1. Cách phân loại thứ 1: GDDS vô hiệu tuyệt đối, GDDS vô hiệu tương đối

a. GDDS vô hiệu tuyệt đối:

Là những GDDS vi phạm những quy tắc pháp lý có mục đích bảo vệ quyền và lợi ích chung của cộng đồng.

Căn cứ vào các điều 128,129 và 136 khoản 2 thì GDDS vô hiệu khi:

+ Nội dung, mục đích vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

+ Khi giao dịch được xác lập một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác.

Previous Page of 9Next Page

Comments & Reviews (6)

Login or Facebook Sign in with Twitter


library_icon_grey.png Add share_icon_grey.png Share

Who's Reading

Recommended