Xem trước of 8Tiếp theo >

giao dịch dân sự vô hiệu

spinner.gif

GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU

I.Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu 

1. Khái niệm giao dịch dân sự: 

Một giao dịch dân sự chỉ được xác lập, thay đổi hay chấm dứt khi có ít nhất là một trong các bên tham gia giao dịch dân sự thể hiện ý chí của mình dưới một hình thức nhất định nhằm mục đích ghi nhận, thay đổi hoặc huỷ bỏ các quyền và nghĩa vụ dân sự. 

Điều 121, BLDS 2005, quy định : " Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương hoặc hợp đồng của cá nhân, pháp nhân và của các chủ thể khác nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự". 

2. Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu 

Theo Điều 127 BLDS khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu được hiểu là :  

" Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại điều 122 của bộ luật này, thì vô hiệu" 

Điều 122, BLDS, quy định 

" Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự  

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: 

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;  

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; 

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện. 

2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định." 

Điều đó có nghĩa là những giao dịch dân sự nếu vi phạm một trong bốn điều kiện về hình thức và nội dung sau sẽ có thể bị coi là vô hiệu: 

- Người tham gia giao dịch dân sự có năng lực hành vi dân sự; 

- Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; 

- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện. 

- Hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật  

Tính vô hiệu của giao dịch dân sự được thể hiện ở chỗ nó không làm phát sinh hậu quả pháp lý mà các bên mong muốn đạt được khi tham gia xác lập giao dịch dân sự đó, hay nói cách khác là nó không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên mong muốn có khi xác lập giao dịch dân sự đó.

II. Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu 

1. Cách phân loại thứ 1: GDDS vô hiệu tuyệt đối, GDDS vô hiệu tương đối 

a. GDDS vô hiệu tuyệt đối: 

Là những GDDS vi phạm những quy tắc pháp lý có mục đích bảo vệ quyền và lợi ích chung của cộng đồng. 

Căn cứ vào các điều 128,129 và 136 khoản 2 thì GDDS vô hiệu khi: 

+ Nội dung, mục đích vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội 

+ Khi giao dịch được xác lập một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác. 

b. GDDS vô hiệu tương đối:  

Là những GDDS vi phạm một trong những quy tắc pháp lý có mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của một chủ thể xác định ( cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình ) 

GDDS vô hiệu tương đối khi: 

+ GD được xác lập bởi người chưa thành niên, người hạn chế năng lực hành vi dân sự, người mất năng lực hành vi dân sự; giao dịch do người không nhận thức được hành vi của mình xác lập 

+ GD do nhầm lẫn, đe dọa, lừa dối 

+ GD vi phạm điều kiện về hình thức  

Sự phân loại nêu trên có cơ sở dựa vào một số đặc điểm khác biệt chung thể hiện bản chất của hai khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối. Đó là: 

- Sự vô hiệu tuyệt đối là đương nhiên mà không cần bất cứ một sự tranh chấp nào. Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối mặc nhiên bị coi là vô hiệu. Còn đối với các giao dịch vô hiệu tương đối thì không mặc nhiên vô hiệu mà chỉ trở nên vô hiệu khi hội tụ đủ những điều kiện nhất định: a) Khi có đơn yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan và b) Theo quyết định của Toà án. (Đây là sự khác biệt quan trọng nhất, được coi là tiêu chí hàng đầu để phân loại một giao dịch vô hiệu thuộc trường hợp vô hiệu tuyệt đối hay vô hiệu tương đối khi nghiên cứu nội dung các văn bản quy phạm pháp luật)

Xem trước of 8Tiếp theo >

Bình luận & Đánh giá (6)



library_icon_grey.png Thêm share_icon_grey.png Chia sẻ

Đang đọc

Đề nghị