Previous Page of 8Next Page

thời hạn - thời hiệu

spinner.gif

THỜI HẠN - THỜI HIỆU 

I. Thời hạn 

1.Khái niệm: 

Thời hạn là khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác. 

Thời hạn có thể được xác định bằng phút, giờ, ngày,tuần, tháng năm , hoặc bằng một sự kiện có thể xảy ra." 

Thời hạn không đơn thuần chỉ là một khoảng thời gian mà nó được xác định với tư cách là một sự kiện pháp lý đặc biệt làm phát sinh ,thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong những trường hợp do luật quy định hoặc các bên thỏa thuận. 

Thời hạn là khoảng thời gian trôi qua hay thời điểm khi mà nó kết thúc hoặc xuất hiện thì làm phát sinh hậu quả pháp lý.Xét về tính chất ,thời hạn vừa mang tính khách quan của thời gian,vừa mang tính chủ quan của chủ thể trong việc định ra điểm đầu,điểm cuối bởi việc xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác". 

Vd:Theo điều 290 BLDS thì người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của mình đúng thời hạn theo thỏa thuận của các bên hoặc theo luật định. 

Như vậy,chỉ trong khoảng thời gian mà luật xác định là thời hạn thì người có nghĩa vụ mới phải thực hiện nghĩa vụ của mình. 

2.Các loại thời hạn 

2.1.Dựa vào việc xác định thời hạn do chủ thể nào quy định.

Thời hạn do luật định: đây là thời hạn không thể thay đổi, tùy theo ý chí của các bên khi tham gia các giao dịch, việc áp dụng thời hạn theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ của mọi chủ thể kể cả tòa án. Thời hạn này có ý nghĩa bắt buộc đối với các chủ thể tham gia giao dịch. 

VD:Theo Điều 81-BLHS, thì tòa án chỉ được tuyên bố 1 người là đã chết, nếu sau 3 năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức là người đó còn sống, trường hợp mất tích trong chiến tranh thì sau 5 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà không có tin tức là còn sống. 

Thời hạn thỏa thuận theo ý chí của các bên giao dịch: đây là thời hạn thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể, thời hạn do các chủ thể tự xác định, nó có thể được các bên thay đổi,kéo dài hay rút ngắn. 

VD: Thời hạn thuê nhà ở, các bên tham gia quan hệ hợp đồng thuê nhà ở có thể thỏa thuận thời hạn thuê 1 ngày, 2 ngày, 6 tháng, 1 năm, 2 năm hoặc không xác định thời hạn thuê. Pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận và ý chí của các bên tham gia quan hệ hợp đồng thuê. 

Thời hạn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định khi xem xét, giải quyết các vụ việc cụ thể. Đây là trường hợp pháp luật trao quyền cho các cơ quan nhà nước thực hiện việc xác định thời hạn khi xem xét, giải quyết các vụ việc cụ thể tùy theo tính chất của từng loại giao dịch,từng loại quan hệ pháp luật. 

VD:Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch( như hợp đồng tặng cho nhà ở, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất...) mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, tòa án hoặc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong 1 thời hạn , quá thời hạn hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu (Điều 134- BLDS).

2.2.Căn cứ theo hậu quả pháp lý.

Thời hạn yêu cầu thực hiện nghĩa vụ: 

Là khoảng thời gian mà trong đó người có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện đúng nghĩa vụ khi người này không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình . 

VD: thực hiện nghĩa vụ không đúng số lượng hoặc chất lượng... 

Thời hạn bảo hành : 

Là khoảng thời hạn mà trong đó bên mua nếu phát hiện được khuyết tật của vật mua bán có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa không phải trả tiền, giảm giá, đổi vật có khuyết tật lấy vật khác hoặc trả lại vật và lấy lại tiền. trong thời hạn bảo hành, nếu do khuyết tật về kĩ thuật của vật mà gây ra thiệt hại, thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại. Thời hạn này có thể do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định.

Previous Page of 8Next Page

Comments & Reviews (10)

Login or Facebook Sign in with Twitter


library_icon_grey.png Add share_icon_grey.png Share

Who's Reading

Recommended