Xem trước of 10Tiếp theo >

thuốc mê & thuốc tê

spinner.gif

THUỐC MÊ - THUỐC MÊ

A. ĐẶT VẤN ĐỀ: 

Hiện nay, công tác điều trị cũng như phẩu thuật trong y học đã có những thành tựu đáng kể, có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo sức khỏe của con người cùng những động vật xung quanh con người. Đặc biệt, từ khi thuốc mê - thuốc tê ra đời đã đánh đấu một bước phát triển đáng kể trong y học. Thuốc mê - thuốc tê không những có ý nghĩa trong nhân y mà đối với ngành Thú y của chúng ta nó cúng cũng góp phần không nhỏ giúp cán bộ Thú y trong quá trình tác nghiệp. Nhờ có thuốc mê - thuốc tê, con vật giảm được đau đớn từ đó cán bộ Thú y có thể tiếp cận để chẩn đoán cũng như phẩu thuật điều trị một cách hiệu quả hơn và đảm bảo được an toàn cho cán bộ Thú y cũng như cho chính con vật đó. Tuy nhiên, bên cạnh những tác dụng tích cực của thuốc mê - thuốc tê thì không thể tránh khỏi những tác dụng phụ không mong muốn của nó. Nhiệm vụ của người gây mê - gây tê là làm sao để sử dụng hiểu quả nhất và phải hạn chế thấp nhất những tác dụng không mong muốn xảy ra. Để làm được điều đó người gây mê - gây tê phải có phương pháp đúng cũng như hiểu được cơ chế, tác dụng và liều lượng của từng loại thuốc được sử dụng.  

Hiểu được tầm quan trọng đó, nhóm cúng tôi đã có sự tìm hiểu cơ bản về thuốc mê - thuốc tê và xin giới thiệu một số thông tin mà chúng tôi đã thu nhận được trong thời gian qua.

B. THUỐC MÊ

I. ĐỊNH NGHĨA: 

Mê là quá trình tê liệt có hồi phục của hệ thần kinh. Trong quá trình mê, mê mất hết tri giác, cảm giác, vận động tự chủ, các cơ bắp giãn ra. Các cơ năng thực vật giảm, nhưng các hoạt động của các trung tâm quan trọng của đời sống như hô hấp, vân mạch vẫn được bảo đảm duy trì. 

Bất cứ một kích thích mạnh mẽ nào lên con vật đã được gây mê cũng không làm nó tĩnh ngay dậy vì toàn bộ các hoạt động phản xạ đã bị loại bỏ. 

Thuốc mê là thuốc có tác dụng gây cho người và động vật trạng thái mê nói trên. Phần lớn chúng là các chất bay hơi: các carburhydro chưa no, các cồn, các ete, các dẫn xuất halogen. 

Một thuốc mê tốt là thuốc sau giai đoạn kích thích ngắn, nhanh chóng di vào giai đoạn mê, phạm vi sử dụng rộng, không ảnh hưởng đến các hoạt động sống cơ bản, không để lại di hại sau gây mê. 

Chia thuốc mê làm 2 nhóm chính : 

- Thuốc mê bay hơi (gây mê qua đường hô hấp). 

- Thuốc mê không bay hơi (qua đường tiêm). 

Các thuốc mê bay hơi được đưa vào đường hô hấp cùng với không khí, với một tỉ lệ thích hợp, đảm bảo đủ nồng độ và áp lực, khiến cho thuốc có thể vào máu rồi đi đến các tế bào thần kinh.

II. QUÁ TRÌNH MÊ:  

Trong quá trình mê người ta chia làm 4 giai đoạn với những đặc điểm quan sát được trên lâm sàng, có thể tóm tắt như sau: 

1. Giai đoạn giảm đau: 

Tri giác và các phản xạ vẫn còn. Nhưng cảm giác đau giảm rõ rệt. Trương lực cơ vẫn còn, các can thiệp nhẹ nhàng (như vạch mí mắt, sờ tay vào vết thương...) con vật không có phản ứng rõ. 

2. Giai đoạn hưng phấn: 

Ở giai đoạn này, tri giác mất hoàn toàn, nhưng mọi phản xạ đều tăng. Trương lực cơ bắp tăng. Do hưng phấn trung tâm giao cảm và tăng tiết Adrenalin ở tuyến thượng thận nên tim đập nhanh, huyết áp tăng, đường huyết tăng, đồng tử giãn. 

Nguyên nhân của các hiện tượng trên là do nội lực ức chế ở võ não, làm cho võ não không kiểm soát nổi hoạt động của phần dưới vỏ. 

3. Giai đoạn phẩu thuật: 

Giấc mê sâu dần, các biểu hiện hưng phấn yếu dần. Thuốc mê tác dụng ức chế xuống các phần dưới võ. Hô hấp đều và sâu, huyết áp bình thường, mạch chậm. 

Trương lực cơ giảm, ta có thể để đầu, chi, đuôi con vật ở bất kì tư thế nào, con vật cũng không phản ứng gì. Mọi phản xạ đều mất. Đây là giai đoạn phẩu thuật.

Xem trước of 10Tiếp theo >

Bình luận & Đánh giá (7)



library_icon_grey.png Thêm share_icon_grey.png Chia sẻ

Đang đọc

Đề nghị