Previous Page of 7Next Page

Mot so benh tim bam sinh

spinner.gif

 

SIÊU ÂM MỘT SỐ BỆNH TIM BẨM SINH THƯỜNG GẶP

 

Bệnh tim bẩm sinh là những bất thường về cấu trúc của tim và các mạch máu lớn xảy ra từ trong thời kỳ bào thai, nên khi sinh ra đã có bệnh. Nhưng bệnh tim bẩm sinh không phải là một dị tật có tính di truyền, mặc dù một số bệnh di truyền có tỷ lệ bị tim bẩm sinh cao hơn những trẻ sơ sinh bình thường khác. Theo thống kê của Hoa Kỳ tỷ lệ bệnh tim bẩm sinh ở trẻ sơ sinh là 0,8%, hay theo thống kê của nhiều quốc gia tỷ lệ này từ 0,3-1%, còn ở nước ta cho đến hiện nay chưa có thống kê chính thức do công tác quản lý sức khoẻ sơ sinh chưa tốt, còn rất nhiều người không biết bị bệnh tim bẩm sinh cho tới tận tuổi trưởng thành. Các bệnh tim bẩm sinh rất đa dạng và phức tạp nên thường được phân loại theo những nhóm bệnh, như loại có tím hay không tím. 1. Những bệnh tim bẩm sinh không tím.

1.1. Bệnh tim bẩm sinh không tím, không có luồng thông (shunt).
a. Bệnh của phía tim trái: Tim 3 buồng nhĩ, hẹp tĩnh mạch phổi, hẹp van hai lá bẩm sinh, kênh nhĩ thất, chuyển dịch đại động mạch, động mạch vành trái bắt nguồn tử động mạch phổi, hẹp đường tống máu ra thất trái (trên van, van, dưới van động mạch chủ), hở van 2 lá bẩm sinh do cấu trúc bất thường của bộ máy van 2 lá.
b. Bệnh của phía tim phải: Bất thường Ebstein, hẹp động mạch phổi (phần phễu, van, hẹp thân và nhánh động mạch phổi), hở van động mạch phổi bẩm sinh, cao áp động mạch phổi vô căn, dãn thân động mạch phổi vô căn.
1.2. Bệnh tim bẩm sinh không tím, có luồng thông (shunt).
Thông liên nhĩ, tĩnh mạch phổi đổ lạc chỗ một phần vào nhĩ phải, hội chứng Lutembaccher, thông liên thất, thông liên thất kèm theo hở van động mạch chủ, dò động mạch vành, vỡ túi phình xoang Valsalva, động mạch vành trái bắt nguồn từ động mạch phổi, còn ống động mạch, dò chủ phế, kênh nhĩ thất.
2. Những bệnh tim bẩm sinh có tím.
2.1. Những bệnh tim bẩm sinh có tím, có tăng tuần hoàn động mạch phổi: Hoán vị đại động mạch, thất phải 2 đường ra, thân chung động mạch, nhĩ chung, nối liền bất thường tuần hoàn tĩnh mạch phổi, một tâm thất không kèm hẹp động mạch phổi...
2.2. Những bệnh tim bẩm sinh có tím, tuần hoàn phổi bình thường hoặc giảm: Không lỗ van 3 lá, bất thường Ebstein, 1 tâm thất kèm theo hẹp động mạch phổi, tĩnh mạch chủ đổ vào nhĩ trái, tam, tứ chứng Fallot, hoán vị đại động mạch, các thông liên thất, liên nhĩ với shunt đảo chiều (hội chứng Eisenmenger), hoán vị đại động mạch với sức cản động mạch phổi cao, giảm sản tim trái...
Tuy nhiên trong phạm vi hạn chế chúng tôi chỉ giới thiệu một số bệnh tim bẩm sinh thường gặp nhất và thông thường còn tồn tại đến lứa tuổi trưởng thành.
THÔNG LIÊN NHĨ
Thông liên nhĩ (TLN) là một bệnh tim bẩm sinh thường gặp, chiếm tỷ lệ vào khoảng 10% trong các dị tật tim mạch bẩm sinh, với tỷ lệ nữ nhiều hơn nam (2/1). Ngày nay chẩn đoán TLN chủ yếu dựa vào siêu âm tim. Tuy nhiên do bệnh cảnh lâm sàng đa dạng nên việc chẩn đoán không phải lúc nào cũng dễ dàng. Nhiều khi phải kết hợp nhiều phương pháp như lâm sàng, điện tim, X quang với các kiểu siêu âm từ TM, 2D, Doppler màu cho đến siêu âm cản âm và siêu âm với đầu dò thực quản. Trong đó siêu âm đầu dò qua thực quản là tốt nhất.
Dựa vào vị trí của lỗ thông trên vách liên nhĩ người ta chia TLN ra làm 4 loại:
- Thông liên nhĩ lỗ thứ nhất (ostium primum), lỗ thông nằm ngay sát van nhĩ thất.
- Thông liên nhĩ lỗ thứ hai (ostium secundum): ở phần giữa vách liên nhĩ, loại này chiếm tới 80-90% các trường hợp TLN.
- Thông liên nhĩ phần xoang tĩnh mạch (Sinus venosus): cao, gần chỗ tĩnh mạch chủ trên đổ vào nhĩ phải, hoặc hiếm hơn nữa là thể ở thấp, gần chỗ tĩnh mạch chủ dưới đổ vào nhĩ phải.
- Thông liên nhĩ phần xoang tĩnh mạch vành.
1. Các dấu hiệu trên siêu âm TM và 2D.
- Giãn các buồng tim phải. Thất trái thường có xu hướng nhỏ hơn mức bình thường.
- Khuyết một phần vách liên nhĩ. Thường được quan sát thấy trên các mặt cắt trục ngắn cạnh ức trái liên sườn 3-4, với đầu dò hơi chếch lên trên để có thể nhìn rõ vách liên nhĩ, sao cho hướng của chùm tia siêu âm càng gần vuông góc với vách liên nhĩ càng tốt. Mặt cắt dưới mũi ức cũng có giá trị chẩn đoán cao. Thông thường 2 đầu mút của lỗ thông hay có dấu hiệu tăng âm. Thiết diện 4 buồng tim có thể nghi ngờ lỗ thông, nhưng giá trị chẩn đoán không chắc chắn vì lúc này chùm tia siêu âm đi song song với vách liên nhĩ (phần giữa rất mỏng) nên nhiều khi không hiện hình lên được (hiện tượng drop out), nhất là những trường hợp có phình vách liên nhĩ. Bằng siêu âm 2D chúng ta đo gờ trên và dưới còn lại của vách liên nhĩ.

Previous Page of 7Next Page

Comments & Reviews

Login or Facebook Sign in with Twitter
library_icon_grey.png Add share_icon_grey.png Share

Who's Reading

Recommended