Xem trước of 5Tiếp theo >

Bình giảng bài thơ "Tương tư" của Nguyễn Bính

spinner.gif
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười thương một người,
Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của nàng.
Hai thôn chung lại một làng.
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên nay?
Ngày qua ngày lại qua ngày.
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
Bảo rằng cách trở đò giang.
Không sang là chẳng đường sang đã dành.
Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?
Tương tư thức mấy đêm rồi.
Biết cho ai, hỏi ai người biết cho?
Bao giờ bến mới gặp đò,
Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau?
Nhà em có một giàn giầu,
Nhà tôi có một hàng cau liên phòng,
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?




Trước Nguyễn Bính 150 năm, Nguyễn Công Trứ thuở “hàn nho” (?) đã có lần viết:

“Tương tư không biết cái làm sao
Muốn vẽ mà chơi vẽ được nào…”
(Tương tư)


Xuân Diệu – Ông chúa thơ tình - người đồng thời với thi sĩ Nguyễn Bính cũng có bài “Tương tư chiều” (Thơ thơ – 1938) nồng nàn thương nhớ:

“Anh nhớ tiếng, Anh nhớ hình, Anh nhớ ảnh
Anh nhớ em, anh nhớ lắm! em ơi!
Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi,
Nhớ đôi môi dang cười ở phương trời
Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm”.


Năm 1939, Nguyễn Bính viết “Tương tư” in trong tập “Lỡ bước sang ngang” xuất bản tại Hà Nội, năm 1940. Với 20 câu thơ lục bát, Nguyễn Bính đã có một cách nói riêng về nỗi nhớ, nỗi buồn tương tư. Chàng trai đa tình, mơ mộng khắc khoải chờ mong và thương nhớ cô gái “chung làng” với một tình yêu chưa được đáp đền… nên mới tương tư như thế. Nỗi tương tư buồn dịu ấy được đặt vào một khung cảnh bình dị đáng yêu trong hương đồng gió nội thuần khiết, trong sáng như một mối tình đan díu xưa cũ trong bài hát giao duyên thuở nào.
Có yêu lầm nhớ nhiều nên mới tương. Yêu lắm nhớ nhiều, mà không được “người tình” đáp lại, không được gặp mặt người yêu thì mới tương tư, mang nỗi buồn tương tư. “Nghề riêng nhớ ít tưởng nhiều – Xăm xăm đè nẻo Lam Kiều lần sang” (“Truyện Kiều” - Nguyễn Du)
1 - Khổ thơ đầu nói lên nỗi “nhớ”, nỗi “mong” của kẻ đang yêu, nỗi nhớ mong đầy ắp trong lòng, đã thành “bệnh” bởi lẽ “tôi yêu nàng”:

“Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một người.
Gió mưa là bệnh của giời.
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”.


Chữ “tôi” xuất hiện trong bài thơ thật đáng yêu. Thôn Đoài với thôn Đông là nơi nhà “Nàng” và nhà “Tôi” đang ở. Cách sử dụng hoán dụ - nhân hoá kết hợp với thành ngữ và nghệ thuật phân hợp số từ - vị ngữ (chín, mười, nhớ mong = chín nhớ mười mong) làm cho lời thơ trở nên bình dị mà hồn nhiên, đằm thắm. Nỗi “chín nhớ mười mong một người” không chỉ đầy ắp, da diết trong lòng chàng trai đa tình mà còn tràn ngập cả xóm thôn, cả thôn Đông lẫn thôn Đoài. Yêu nàng tôi tương tư đã thành “bệnh”, thật đáng thương,… cũng như bệnh nắng mưa của trời vậy. Cách so sánh “bệnh giời” với bệnh tương tư “của tôi yêu nàng”, Nguyễn Bính đã diễn tả mọt cách hồn nhiên, thú vị về nỗi buồn tương tư trong tình yêu là lẽ tự nhiên, là tất yếu. Yêu thì mong được gần nhau, mà xa thì nhớ; yêu lắm nên nhớ nhiều; càng nhớ mong thì càng tương tư. Tương tư là một nét đẹp của tình yêu nên khác gì “Nắng mưa là bệnh của giời”....
2 - Mười hai câu tiếp theo nói lên tâm trạng tương tư “bệnh của tôi yêu nang”. Trước hết là nỗi băn khoăn thắc mắc. Tuy chẳng được ở gần nhau “bên giậu mùng tơi”, “bên giàn thiên lý”, nhưng tôi với nàng gần gũi biết bao “Hai thôn chung lại một làng”. Có mong có nhớ… có đi mà không có lại, nên băn khoăn thắc mắc biết ngỏ cùng ai bây giờ? Một câu hỏi cất lên nghe thật là thương, thật là buồn:

Xem trước of 5Tiếp theo >

Bình luận & Đánh giá

library_icon_grey.png Thêm share_icon_grey.png Chia sẻ

Đang đọc

Đề nghị