Xem trước of 4Tiếp theo >

Cây đinh lăng

spinner.gif

 

 

 

 

Đinh lăng là một loại cây thân thảo, có lá sum suê quanh năm xanh tốt và dáng cây cũng rất đẹp nên thường được trồng làm cảnh trong các đình chùa. Nhưng đây cũng là một cây thuốc quý thường được sử dụng trong dân gian. Danh y Hải Thượng Lãng Ông từng nói rằng: Đinh lăng  là cây nhân sâm cho người nghèo.

I)Phân loại thực vật học

Đinh lăng còn có tên là cây gỏi cá, tên trung quốc là Nam Dương Sâm, tên khoa học là Polysiscias fruticosa, thuộc họ Araliaceae, cùng họ với nhân sâm

 

 

 

Bộ (ordo):

Apiales

Họ (familia):

Araliaceae( Ngũ gia bì hay Nhân Sâm)

Phân họ (subfamilia):

Aralioideae

Chi (genus):

Polyscias

Loài (species):

P. fruticosa

Tên hai phần Polyscias fruticosa
(L.) Harms, 1894

II) đặc điểm thực vật học

1)Mô tả

Đinh lăng có nhiều loại nhưng  để dùng làm thuốc thì thường dùng đinh lăng nếp , là loại  cây có lá nhỏ, cây than gỗ nhỏ, cao 0.8-1.5m,  than khong long, không gai. Lá kép 3 lần lông chim, dài 20 - 40cm. Lá chét có cuống nhỏ mảnh khảnh dài 3 - 15mm, dạng màng, khía răng không đều, phần nhiều khía hay chia thuỳ, có mũi nhọn, dài 3 - 10cm, rộng 0,6 - 4cm. Hoa nhỏ thành cờ, tán ngắn dài 7 - 18cm. Quả dẹt màu trắng bạc, dài và rộng khoảng 3 - 4mm, dày 1mm, đội các vòi còn lại. Cây ra hoa tháng 4 - 7.

2)Nguồn gốc, phân bố

Cây có nguồn gốc từ các đảo Thái bình dương (Polynêdi) được trồng chủ yếu để làm cảnh ở các đình chùa, các vườn gia đình. Từ năm 1961, do biết tác dụng bổ dưỡng của rễ Đinh lăng, người ta trồng nhiều ở các bệnh viện, trạm xá, vườn thuốc

3)Đặc điểm phát triển

 

Đinh lăng là cây sống nhiều năm, ưa ẩm, ưa sáng nhưng cũng chịu hạn, chịu bóng nhưng không chịu úng ngập. Có thể phát triển trên nhiều loại đất nhưng tốt nhất là đất pha cát. Cây phát triển mạnh khi nhiệt độ dưới 25 oC (từ giữa thu đến cuối xuân) Đinh lăng trồng bằng cách giâm cành. Có thể trồng được cả bốn mùa nhưng tốt nhất là giữa xuân.. Cây ra hoa từ tháng 4-7

III) Bộ phận sử dụng, công dụng, cách dùng

1) Bộ phận sử dụng (Cả rễ, thân, lá)

Lá đinh lăng có vị ngọt, tính ấm, hơi đắng. Bộ phận làm thuốc của đinh lăng là rễ củ, cành lá( tuy nhiên cành lá không tốt bằng rễ củ) Thường lấy các bộ phận này làm thuốc khi cây từ 3- 5 tuổi. vào mùa thu hoặc mùa đông,người ta đào lấy rễ đinh lăng vì  lúc này  hoạt chất tập trung ở rễ và rễ mềm hơn.. Lá thu được đem hong gió cho khô là tốt nhất (âm can). Cuối cùng sấy cho thật khô.
- Vỏ rễ, vỏ thân: có thể thu hoạch vào cuối thu năm thứ 2 (cây trồng 5 năm có năng suất vỏ rễ vỏ thân cao nhất). Rễ và thân cây rửa sạch đất cát, cắt rời rễ lớn, hong gió một ngày cho ráo nước (khi bóc vỏ rất dễ) để riêng từng loại vỏ thân, vỏ rễ sau khi bóc. Rễ nhỏ có đường kính dưới 10mm không bóc vỏ. Loại đường kính dưới 5mm để riêng. Phơi, sấy liên tục đến khi khô ròn là được.
 Phân loại:

-                                 Loại I: vỏ, rễ cây loại có đường kính (lúc tươi) từ 10mm trở lên.
- Loại II: vỏ thân và vỏ rễ có đường kính dưới 10mm (vỏ thân gần gốc dày trên 2mm).
- Loại III: các loại rễ và vỏ thân mỏng dưới 2mm.
 Các rễ đào đc đem rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô hoặc tẩm với rượu, gừng sao thơm. Bảo quản: nơi khô, sạch, chú ý phòng ẩm và mối mọt dễ phát sinh. Vỏ rễ, vỏ thân thời hạn sử dụng 2 năm. Nếu chế thành cao lỏng, dung môi rượu 45 oC sẽ bảo quản được lâu và tiện sử dụng hơn. Lá thời hạn sử dụng 6 tháng.

Xem trước of 4Tiếp theo >

Bình luận & Đánh giá

library_icon_grey.png Thêm share_icon_grey.png Chia sẻ

Đang đọc

Đề nghị