Previous Page of 4Next Page

Sinh lý Tiêu hoá ở ruột non

spinner.gif

Tiêu hoá ở ruột non
Tiêu hoá ở ruột non là giai đoạn quan trọng nhất của toàn bộ quá trình tiêu hoá, bởi vì:
- ở ruột non có nhiều loại dịch tiêu hoá (dịch tuỵ, dịch mật, dịch ruột), trong đó có nhiều men tiêu hoá với hoạt tính cao có khả năng phân giải thức ăn thành các chất đơn giản có thể hấp thu được.
- Niêm mạc ruột non có cấu trúc đặc biệt và những phản ứng sinh học tinh vi, phức tạp giúp cho việc hấp thu các chất dinh dưỡng một cách chủ động và chọn lọc.
1- Hiện tượng bài tiết và hoá học ở ruột non.
ở ruột non các chất thức ăn được phân giải tới mức đơn giản nhất nhờ tác dụng của các dịch tiêu hoá: dịch tuỵ, dịch ruột, dịch mật.
1- Dịch tuỵ.
Dịch tuỵ do các tế bào cuả tuyến  tuỵ ngoại tiết sản xuất và được đổ vào khúc hai của tá tràng qua phình Vater, có cơ Oddi.


1.1- Tính chất và thành phần của dịch tuỵ.
    
   Dịch tuỵ là một chất lỏng, nhờn, không màu có phản ứng kiềm rõ, pH là 7,8-8,4. ở người lượng dịch tuỵ trong 24 giờ khoảng 1,5-2,0 lít.
Thành phần dịch tuỵ có hơn 98% là nước, các muối vô cơ: Na+, K+, Ca++. Mg++, Cl-, HCO3-... và các chất hữu cơ chủ yếu là các men tiêu hoá protid, lipid và glucid, cùng nhiều chất protein, hormon tiêu hoá, chất nhầy và các chất khác.
1.2- Tác dụng của dịch tuỵ.
Tác dụng của dịch tuỵ chính là do các men tiêu hoá chứa trong nó quyết định.
* Tiêu hoá protid. Các men tiêu hoá protid của dịch tuỵ khi mới sản xuất  đều ở dạng tiền men chưa hoạt động là trypsinogen, chymotripsinogen, procarboxypeptidase. Khi tới tá tràng, nhờ sự tác động của entrokinase (một men của ruột) trypsinogen được biến thành trypsin hoạt động. Ngay sau đó trypsin lại tác động lên các men khác: chymotrypsinogen, procarbo-xypeptidase và kinanogen biến chúng thành các men hoạt động.

  

- Trypsin chặt đứt liên kết peptid bên trong phân tử protid mà có nhóm CO- thuộc acid amin kiềm; còn chymotrypsin chuyên chặt đứt các liên kết peptid ở bên trong phân tử protid mà có nhóm CO-thuộc acid amin thơm.
Sản phẩm của hai men này chủ yếu  là các đoạn peptid ngắn hơn (oligopeptid).
- Carboxypeptidase tác dụng vào liên kết peptid ngoài cùng đầu C-tận, tách một acid amin ra khỏi chuỗi peptid. Trong đó Carboxypeptidase A ái lực với a.amin thơm; Carboxypeptidase B ái lực với a.amin kiềm.
Nói chung các men tiêu hoá protid của dịch tuỵ có hoạt tính mạnh, chúng phân cắt 60-80% protid thành các đoạn peptid ngắn và acid amin.
* Tiêu hoá lipid.
Ơ ruột nhờ có dịch mật tất cả các chất lipid thức ăn đều được nhũ hoá, các men tuỵ có thể thuỷ phân tới 95% lượng lipitd thức ăn các dạng đơn giản.
        -Lipase tuỵ hoạt tính mạnh, thuỷ phân gần toàn bộ TG đã nhũ hoá thành mônglycerid, glycerol và acid béo.
   -Tuỵ baì tiết Pro Phospholipase. Vào trong ruột nó được men trypsin hoạt hoá thành Phospholipase. Có nhiều loại Phospholipase khác nhau, trong đó
Phospholipase A (gọi là lecithinase) là nhiều nhất và hoạt tính mạnh nhất.

        

-Cholesterolesterase thuỷ phân cholesteroleste và các steroid thành cholesterol tự do, acid béo và sterol.
·      Tiêu hoá glucid.
Các men tiêu hoá glucid của tuỵ hoạt tính rất mạnh, thuỷ phân tới # 80% lượng glucid thức ăn.
- Men amylase

Previous Page of 4Next Page

Comments & Reviews (1)

Login or Facebook Sign in with Twitter


library_icon_grey.png Add share_icon_grey.png Share

Who's Reading

Recommended