Previous Page of 10Next Page

Chuong 5 dan cu trong luat quoc te

spinner.gif

CHƯƠNG V 

DÂN CƯ TRONG LUẬT QUỐC TẾ 

Mục đích nghiên cứu 

Các kiến thức từ chương này sẽ giúp sinh viên hiểu và nắm bắt được các kiến thức lý luận và pháp lý cơ bản về yếu tố dân cư trong mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau và giữa một công dân của một quốc gia với một nhà nước nhất định. 

Một số văn bản liên quan 

- Giáo trình luật quốc tế  

- Luật Quốc tịch Việt nam năm 2005 

-  

KHÁI QUÁT VỀ DÂN CƯ TRONG LUẬT QUỐC TẾ 

Dân cư là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành nên quốc gia - chủ thể cơ bản của luật quốc tế. Nếu theo cách hiểu thông thường, thì "dân cư" được hiểu là những người dân mang quốc tịch của một quốc gia nhất định. Tuy nhiên, về phương diện luật quốc tế, dân cư là tổng hợp những người sinh sống, cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia nhất định và chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia đó. Địa vị pháp lý của dân cư nói chung do luật quốc gia các nước hữu quan và luật quốc tế xác định. Theo đó, dân cư trong luật quốc tế được xác định gồm 3 nhóm cơ bản sau: 

• Công dân của quốc gia sở tại (những người mang quốc tịch của nước họ đang sống); 

• Người nước ngoài (những người không mang quốc tịch của quốc gia sở tại), bao gồm: 

- Viên chức ngoại giao, lãnh sự; 

- Các chuyên gia, lưu học sinh đến học tập, làm việc tại quốc gia sở tại. Cơ sở pháp lý để họ hiện diện tại nước sở tại có thể là các điều ước quốc tế hoặc các hợp đồng lao động; 

- Người nước ngoài đến định cư và làm ăn sinh sống tại quốc gia sở tại. 

• Người không quốc tịch và người có nhiều quốc tịch 

 3 nhóm này có địa vị pháp lý được xác định rất khác nhau trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia, điều này phụ thuộc vào chế độ kinh tế-xã hội và trình độ phát triển chung của mỗi quốc gia. Việc xác định địa vị pháp lý của các bộ phận dân cư thuộc thẩm quyền của quốc gia đó. Tuy nhiên, trong thực tiễn quan hệ quốc tế, có nhiều vấn đề pháp lý liên quan đến dân cư chỉ có thể giải quyết một cách hiệu quả dựa trên cơ sở các điều ước quốc tế được ký kết giữa các quốc gia. 

I. THỰC HIỆN CHỦ QUYỀN QUỐC GIA ĐỐI VỚI DÂN CƯ 

1. Xác định quốc tịch 

a. Khái niệm quốc tịch 

*Khái quát: Trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, "quốc tịch" là một khái niệm ra đời vào thời kỳ xã hội đang chuyển dần từ chế độ phong kiến sang chủ nghĩa tư bản. Đây là một chế định mới được giai cấp tư sản đưa ra nhằm thu hút và "lôi kéo" quần chúng nhân dân ủng hộ cuộc cách mạng nhằm lật đổ chế độ phong kiến, thiết lập chính quyền mới của giai cấp tư sản. Chế định này là một bước phát triển quan trọng trong lịch sử loài người, lần đầu tiên người dân sống trong một quốc gia đã có riêng cho mình một chế định mang tính pháp lý; đây cũng là lần đầu tiên họ được coi là "công dân" của một quốc gia chứ không phải là "thần dân" như trong xã hội phong kiến. Tuy nhiên, ý nghĩa về sự bình đẳng mà giai cấp tư sản hứa mang lại cho họ khi đưa ra chế định quốc tịch thời bấy giờ cũng chỉ là sự bình đẳng mang tính hình thức. Trên thực tế, chỉ có giai cấp tư sản - giai cấp nắm chính quyền mới được hưởng thụ một cách đầy đủ nhất sự bình đẳng và lợi ích mà chế định này mang lại.  

Hiện nay, do sự phát triển không ngừng của nền kinh tế-xã hội, cũng như sự gia tăng các học thuyết chính trị pháp lý về nhân sinh ngày càng nhiều hơn, các giá trị nhân văn ngày càng được trân trọng hơn, thì con người- với vai trò là chủ thể cơ bản hình thành nên mỗi quốc gia ngày càng được quan tâm  Điều này dẫn đến hệ quả tất yếu là khái niệm công dân và địa vị pháp lý của họ trong hệ thống pháp luật quốc gia đang được ghi nhận một cách đúng nghĩa nhất. Lúc này, quốc tịch không còn là chế định mang tính hình thức, nó đã trở thành cách thức biểu đạt rõ nhất mối quan hệ hai chiều giữa một bên là nhà nước và một bên là công dân của họ.

Previous Page of 10Next Page

Comments & Reviews (5)

Login or Facebook Sign in with Twitter


library_icon_grey.png Add share_icon_grey.png Share

Who's Reading

Recommended